Tứ Diệu Đế: Bản chất của Pháp
Những gì chúng ta gọi là ‘Phật giáo’ ngày nay được biết đến trong thời cổ đại là ‘Dhamma-Vinaya’. Từ ‘Dhamma’ (trong tiếng Phạn là Dharma) có nhiều nghĩa.
Nó bao gồm những hiện tượng tối hậu cấu tạo nên vũ trụ, nhưng nó cũng có nghĩa là chân lý hay thực tại và đồng nghĩa với lời dạy của Đức Phật (Đấng đã Tỉnh thức).
Vinaya là quy tắc đạo đức của Đức Phật, các quy tắc dành cho tu sĩ và lời khuyên đạo đức cho cư sĩ.
Việc thuật ngữ Vinaya được đặt bên cạnh Dhamma trong phần mô tả những lời dạy của Đức Phật cho thấy đạo đức quan trọng như thế nào trên con đường giải thoát.
Về bản chất, Đức Phật dạy rằng cuộc sống được đặc trưng bởi dukkha, có nghĩa là không toại nguyện, đau khổ hoặc căng thẳng.
May mắn thay, Ngài cũng dạy rằng bất cứ ai sẵn sàng nỗ lực cần thiết đều có thể giải thoát khỏi khổ đau.
Con đường dẫn đến sự giải thoát này là ý nghĩa của từ “Phật giáo,” và những người đi trên con đường đó có thể tự gọi mình là “Phật tử”.
Tuy nhiên, thuật ngữ “Phật giáo” có một chút sai lệch. Trên thực tế, do sự khác biệt về lịch sử và văn hóa, các trường phái Phật giáo khác nhau đã xuất hiện qua nhiều thế kỷ, trong khi chia sẻ một cốt lõi chung, có thể khác nhau ở mức độ ít hơn hoặc lớn hơn về các khía cạnh đạo đức, triết học và thực tiễn.
Nhưng có một cốt lõi chung mà tất cả các trường phái Phật giáo chia sẻ.
Tứ Diệu Đế và Duyên Khởi
Cốt lõi chung này của tất cả các trường phái Phật giáo được hình thành bởi Tứ Diệu Đế (cattāri ariyasaccāni) và duyên khởi (paṭiccasamuppāda).
Tứ Diệu Đế là:
- Sự thật về bất toại nguyện (dukkha sacca)
- Sự thật về nguyên nhân của bất toại nguyện (dukkha-samudāya sacca)
- Sự thật về sự chấm dứt khổ (dukkha-nirodha sacca)
- Chân lý về con đường đưa đến đoạn diệt khổ (dukkha-nirodha-gamini-paṭipadā sacca)
Duyên khởi thường được Đức Phật tóm tắt như (ví dụ: Ud 1:3):
“Khi cái này là, cái kia là. Từ sự phát sinh của cái này đến sự phát sinh của cái kia. Khi cái này không, cái kia không. Từ sự chấm dứt của cái này đến sự chấm dứt của cái kia.”
Bởi vì hai khía cạnh này của giáo lý gắn bó sâu sắc với nhau, chúng ta sẽ đặt duyên khởi trong khuôn khổ của Chân lý Cao quý thứ hai, nguyên nhân của bất toại nguyện.
Tuy nhiên, do mối quan hệ qua lại với nhau, không thể tránh khỏi những thuật ngữ như ‘duyên’, ‘duyên’, ‘sinh và diệt’, v.v. sẽ xuất hiện sớm hơn. Trong trường hợp đó, nó luôn luôn ám chỉ đến nguyên lý duyên khởi.
Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục với một cái nhìn sâu sắc về Tứ Diệu Đế.
Năm uẩn là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì là đau khổ là vô ngã. Cái vô ngã nên được thấy như nó thực sự là với chánh trí tuệ như sau: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Khi một người thấy điều này như nó thực sự là với chánh trí tuệ, tâm trở nên vô tư và được giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không dính mắc. BUDDHA, SN 22:45
Diệu đế thứ nhất: Bất toại nguyện
Trong bài giảng đầu tiên của mình, Đức Phật nói (SN 56:11):
Này các Tỷ-kheo, đây là chân lý cao quý về khổ: sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ; kết hợp với những gì không hài lòng là đau khổ; xa lìa điều ưa thích là đau khổ; không đạt được điều mình muốn là đau khổ; tóm lại, ngũ uẩn thủ là khổ.”
Ngũ uẩn
Như trên đã nói “tóm lại, năm uẩn bị chấp thủ là khổ”.
Năm uẩn (khandha) là sắc (rūpa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), hành (saṅkhāra) và thức (viññāṇa).
Vào thời Đức Phật, mọi thứ trên thế giới được chia thành năm nhóm này. Một cách dịch khandha khả dĩ khác nhưng có lẽ rườm rà hơn một chút là năm ‘nhóm hiện hữu’.
Vật chất bao gồm các loại yếu tố khác nhau. Cảm giác bao gồm cảm giác dễ chịu, khó chịu và trung tính. Nhận thức bao gồm việc đánh dấu hoặc ghi nhãn đối tượng. Tâm hành bao gồm các tác ý (cetanā) nhắm vào hình sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc và pháp. Thức bao gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.
Đức Phật hầu như luôn đề cập đến các uẩn (khandha) là “các uẩn bị chấp thủ” (upādānakkhandha).
Do đó, những lời của Đức Phật có ảnh hưởng sâu rộng, vì Ngài không nói gì hơn thế, chừng nào bạn còn bám víu vào một cái gì đó trên thế giới hoặc bản thân bạn, thì sẽ có đau khổ.
đau khổ – dukkha
Để làm rõ hơn điều này, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn về từ dukkha.
dukkha thường được dịch là đau khổ. Trong cuộc sống hàng ngày, dukkha dễ được coi là đau khổ nhất, và đó là lý do tại sao bản dịch đó hấp dẫn trí tưởng tượng hơn. Tuy nhiên, Dukkha có một ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều, nó có nguy cơ biến mất cùng với ‘đau khổ’.
Thật ra dukkha có thể được dịch tốt nhất là “sự ma sát của bánh xe với trục toa xe”. Chúng ta trải qua một va chạm tương tự trong cuộc hành trình của cuộc đời mình.
Mọi thứ không diễn ra như mong muốn, cho dù bánh xe đang đứng yên hay đang lăn. Ngay cả khi bánh xe tạm thời thoát khỏi ma sát do chuyển động ngẫu nhiên trên đường, bánh xe sẽ chỉ tiếp tục gây ra ma sát sau một vòng quay.
dukkha có ba hình thức khác nhau vốn liên quan đến nhau.
Đầu tiên là dhukkha-dukkhata có nghĩa là đau khổ trực tiếp trải qua.
Điều này có thể là tinh thần cũng như thể chất. Chẳng hạn, nỗi đau thể xác có nghĩa là một điều gì đó đơn giản như va vào ngón chân của bạn hoặc có thể ở mức độ sâu hơn là sự khó chịu liên tục của cơ thể khiến bạn luôn phải cử động. Ví dụ, nỗi đau tinh thần là sự đau buồn hoặc tuyệt vọng, có lẽ do mất người thân.
Biến thể thứ hai là viparimana dukkha hay đau khổ do thay đổi.
Điều này phức tạp hơn một chút so với biến thể đầu tiên. Như người ta thường nghĩ, đó không phải là sự đau khổ phát sinh sau khi một điều gì đó đã thay đổi. Như đã nói trước đây, đây là một phần của biến thể đầu tiên, ví dụ: đau khổ vì mất mát.
Hình thức đau khổ này là sự đau khổ hiện diện không thể thay đổi trong chính trải nghiệm thú vị, vào thời điểm trải nghiệm thú vị đó. Lý do là bởi vì mọi thứ phát sinh rồi sẽ lại qua đi, bất kỳ hình thức hạnh phúc hay lạc thú nào cũng sẽ diệt vong. Chính sự đau khổ tiềm ẩn phát sinh từ bản chất có điều kiện của sự tồn tại là hình thức đau khổ này.
Hình thức cuối cùng là saṅkhāra dukkha.
Điều này đề cập đến sự đau khổ vốn có trong tất cả các trạng thái có điều kiện. Saṅkhāra là một thuật ngữ khó dịch. Nó đề cập đến sự hình thành trong ý nghĩa rằng mọi thứ bắt nguồn từ các điều kiện.
Hình thức dukkha này là sự bất toại nguyện tiềm ẩn liên tục vốn có với sự tồn tại ở cấp độ sâu nhất.
Chừng nào còn duyên, sự tồn tại vẫn tiếp tục, và cõi tiên giới lang thang trong luân hồi cũng vậy.
Chỉ có Niết Bàn là thoát khỏi các điều kiện, và chỉ có người đã chứng kiến Niết Bàn từ kinh nghiệm cá nhân của chính mình mới có thể hoàn toàn nhìn thấu saṅkhāra dukkha. Đối với chúng ta, những người bình thường, đây vẫn là một khái niệm cho đến thời điểm đó.
Do đó, các hình thức khác nhau của dukkha không là gì khác ngoài những mức độ ngày càng vi tế mà dukkha có thể được nhìn thấy trên đó.
Đầu tiên là khả năng cảm nhận được ngay lập tức, sau đó là nhận thức rằng điều này cũng áp dụng cho những khoảnh khắc dễ chịu, sau đó là điều này hoàn toàn đan xen vào sự tồn tại như một tổng thể.
Bạn có thể thắc mắc tại sao phát triển nhận thức ngày càng tăng về khổ là điều tốt. Điều đó có làm tăng thêm sự đau khổ của bạn không? Không phải tốt hơn là bỏ qua nó, hành động như thể không có gì sai sao?
Tất nhiên, phớt lờ sự khổ luôn là một lựa chọn, nhưng điều đó không thay đổi thực tế.
Những người ngày càng nhận thức được thực tế của khổ đau có thể lấy được năng lượng và động lực to lớn từ điều này để thực hiện nỗ lực cần thiết để chấm dứt nó, bởi vì chấm dứt khổ đau là điều có thể!
Chỉ cần tiếp tục nỗ lực kiên nhẫn. Rồi sớm muộn gì bạn cũng sẽ có thể bước ra khỏi vòng luân hồi vô tận và đạt được sự an lạc không thể diễn tả của Niết Bàn.
luân hồi
Trước khi bắt đầu câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật, chúng ta đã đề cập ngắn gọn về luân hồi. Trong một cái nhìn khái quát về dukkha, chúng ta không thể bỏ qua một chút giải thích về thuật ngữ này, vốn thường bị sử dụng sai ở phương Tây. Samsāra có thể được dịch là ‘sự lang thang bất tận’. Đầu tiên, một vài lời từ chính Đức Phật (SN 15:3 và 15:13):
“Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào: Nước mắt các ông đã rơi trong khi di cư và lang thang trong thời gian dài, khóc lóc, than khóc vì bị dính vào những gì đáng ghét, bị chia cắt khỏi những gì thích thú, có nhiều như nước trong bốn đại dương?
“Đây là điều vĩ đại hơn: những giọt nước mắt bạn đã rơi trong khi luân hồi và lưu lạc trong một thời gian dài, rất lâu—khóc và khóc vì bị ràng buộc với những gì không hài lòng, bị chia cắt khỏi những gì hài lòng—nhiều hơn cả là nước trong bốn đại dương.”
“Các ngươi nghĩ sao, hỡi các tỳ kheo? Cái nào lớn hơn, máu mà bạn đã đổ ra do bị chặt đầu trong khi luân hồi và lưu lạc trong một thời gian dài, rất lâu, hay nước trong bốn đại dương?”
“Đây là điều vĩ đại hơn: máu mà bạn đã đổ ra do bị chặt đầu trong khi luân hồi và lưu lạc trong một thời gian dài, rất lâu, không phải là nước trong bốn đại dương.”
“Tại sao vậy? Từ một sự khởi đầu không thể nghĩ bàn đến sự luân hồi. Điểm khởi đầu không rõ ràng, mặc dù chúng sinh bị vô minh cản trở và bị tham ái trói buộc đang luân hồi và lang thang. Như vậy, từ lâu bạn đã trải qua căng thẳng, trải qua đau đớn, trải qua mất mát, hãy diệt trừ điều này để có thể bình tâm với mọi điều bịa đặt, đủ để trở nên thản nhiên, đủ để được giải thoát.
Luân hồi là vấn đề bao quát. Nó biểu thị khía cạnh vô tận của dukkha.
Không có sự khởi đầu, cho dù bạn có nhìn lại bao xa, và ngay cả cái chết, Đức Phật dạy, cũng không phải là sự kết thúc.
Không có sự tồn tại trên trời nào, dù đẹp đẽ đến đâu, lại đưa ra một giải pháp lâu dài.
Sớm muộn gì mọi thứ cũng thay đổi.
Ahba dạy rằng điều quan trọng là phải nhận ra rằng chúng ta đang bị mắc kẹt trong vòng sinh tử liên tục này, liên tục phải chịu đau khổ, là kết quả của ham muốn.
Lúc đầu, đây có thể chỉ là một định đề để thỉnh thoảng suy ngẫm, nhưng thông qua sự suy ngẫm liên tục kết hợp với kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc từ thiền tập trung, chu kỳ này có thể trở thành nguồn năng lượng và quyết tâm, đạt đến đỉnh cao trong suy nghĩ (AN 2:5 ):
“Nếu chúng ta để máu thịt trong người khô kiệt, chỉ còn da bọc xương, nhưng nếu chúng ta không đạt được những gì có thể đạt được nhờ sự kiên định của con người, sự bền bỉ của con người, sự phấn đấu của con người, thì sẽ không có sự thư thái, sự kiên trì của chúng ta.”
Dukkha vốn có trong mọi sự tồn tại. Chỉ có sự kết thúc của hữu vi, hữu vi, tức là Niết Bàn, là thường hằng.
Ba Đặc Tính của Sự Hiện Hữu
Đức Phật đã dạy ba đặc tính (ti-lakkhaṇa) áp dụng cho mọi sự tồn tại trong Samsāra, đó là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã hay vô ngã (anatta).
Mặt khác, Nibbāna là thường hằng và không có khổ, nhưng ngay cả Nibbāna cũng không có ngã, là vô ngã.
Như vậy, việc đạt được Niết bàn không phải là sự kết hợp với một tổng thể vĩ đại hơn hoặc hợp nhất một sức mạnh hoặc nguyên tắc phổ quát, với Brahma, thần linh hoặc một cái gì đó tương tự. Vì tất cả những ví dụ này đều dựa trên khái niệm về ‘tôi’ hoặc sự kết hợp giữa ‘tôi’ với ‘cái gì đó’.
Ba đặc tính vô cùng quan trọng bởi vì tuệ giác kinh nghiệm trực tiếp vào một trong những đặc tính này sẽ mở ra cánh cửa dẫn đến Niết Bàn.
Bằng cách hiểu rằng mọi thứ đều vô thường, không toại nguyện và không có một bản ngã có thể xác định được, tâm có thể được giải thoát và trở nên hoàn toàn thoát khỏi tham, sân và si.
Vô thường (anicca) thường được tóm tắt trong Kinh điển Pali với thành ngữ ‘tất cả những gì đã phát sinh sẽ qua đi’.
Sự sinh diệt của vạn vật quan trọng đến nỗi Đức Phật đã dành những lời cuối cùng của Ngài cho điều này (DN 16):
“Dễ thất bại, hay thay đổi, đều là cơ bản của sự thành công. Hãy hướng đến mục tiêu không ngừng và coi thất bại là điều hiển nhiên để đạt được mục tiêu[cho sự giải thoát]!”
Và ngay cả sau khi Đức Phật nhập diệt, Sakkha, vua của các vị thần, vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của nó bằng những lời (DN 16):
“Các điều kiện là vô thường, bản chất của chúng là tăng và giảm; sinh rồi diệt; sự tĩnh lặng của chúnglà niềm hạnh phúc đích thực.”
Thoạt nhìn, đây có vẻ là một câu nói đơn giản và rất dễ nhận ra trong cuộc sống hàng ngày với ý nghĩa “mọi thứ đều đến hồi kết thúc”, nhưng những lời của Đức Phật có một ý nghĩa sâu rộng hơn thế.
Sự sinh và diệt xảy ra từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, với một tốc độ khủng khiếp đến nỗi đối với nhận thức hàng ngày, những khoảnh khắc này dường như là một dòng chảy liên tục.
Nó có thể được so sánh với một bộ phim trong đó việc phát lại nhanh các hình ảnh riêng biệt tạo ra ảo giác rằng thực sự có chuyển động.
Đối với các quá trình tinh thần và vật chất cũng vậy. Nếu định đủ cao, tuệ giác và trí tuệ có thể được phát triển bằng cách quan sát sự sinh diệt tức khắc này.
Với sự tập trung cao độ, bạn có thể thấy rằng toàn bộ quá trình tâm và sắc (nāma-rūpa) bị bóp méo.
Đó không phải là sự quan sát đơn giản rằng một ý nghĩ đến và đi hay cơ thể thay đổi từ ngày này sang ngày khác, vì đó là một quan sát rất thô thiển.
Nó nói về việc trải nghiệm ở mức độ vi tế nhất rằng cả vật chất của cơ thể và môi trường của nó cũng như dòng tâm thức bao gồm những khoảnh khắc riêng biệt luôn thay đổi liên tục.
Và nếu thấy được vô thường, hai đặc tính kia sẽ tự nhiên theo sau.
Nếu chúng ta bám víu vào cái vô thường với quan niệm sai lầm rằng nó là thường hằng, khổ đau sẽ phát sinh, đặc tính thứ hai của sự tồn tại mà chúng ta đã xem xét trước đây.
Sau phần giải thích về vô thường và phần trước về khổ, bây giờ chúng ta sẽ tập trung vào vô ngã (anattā), một trong những thuật ngữ quan trọng nhất trong Giáo pháp.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta liên tục nhìn và trải nghiệm bản thân và thế giới từ góc nhìn của cái “tôi”. ‘Tôi’ nhìn vào thế giới, ‘Tôi’ muốn cái này, ‘Tôi’ không muốn cái này, cái này là ‘của tôi’, v.v.
Và không thể thay đổi được sự khác biệt và so sánh giữa ‘tôi’ và ‘người khác’ theo sau. Sự phân biệt này nằm ở gốc rễ của mọi xung đột trên thế giới.
Và không thể thay đổi được sự khác biệt và so sánh giữa ‘tôi’ và ‘người khác’ theo sau. Sự phân biệt này nằm ở gốc rễ của mọi xung đột trên thế giới.
Đức Phật nhiều lần chỉ ra rằng quan điểm về cái “tôi” là một quan điểm sai lầm, không phù hợp với thực tế.
Tà kiến này là một ảo tưởng được duy trì bởi tham, sân và si, và có thể thấy được nhờ định và tuệ. Đây là điều Đức Phật dạy (SN 22:95):
“Giả sử một người có thị lực tốt sẽ nhìn thấy bọt trên sông Hằng khi anh ta đi ngang qua, và anh ta sẽ nhìn và xem xét kỹ lưỡng; sau đó, sau khi quán sát kỹ lưỡng, vị ấy sẽ thấy bọt rỗng không, dễ bay hơi và không có thực chất. Cũng giống như vậy, nhà sư nhìn vào tất cả các hiện tượng vật chất, cảm giác, nhận thức, tâm hành và trạng thái của ý thức – dù trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, xa hay gần. Và khi anh ta nhìn thấy chúng, và xem xét chúng một cách thấu đáo, anh ta thấy chúng trống rỗng, trống rỗng, vô ngã.”
Trong công thức tiêu chuẩn, Đức Phật tạo ra mối liên hệ với hai đặc tính còn lại.
Nếu sự vật là vô thường thì sự bám víu sẽ gây ra đau khổ. Nếu có một bản ngã, thì bản ngã đó sẽ có thể quyết định chỉ để được hạnh phúc và mãn nguyện, nhưng từ kinh nghiệm chúng ta biết rằng điều này là không thể.
Chúng ta không có toàn quyền kiểm soát hạnh phúc của mình (hoặc các khía cạnh khác của ý thức về vấn đề đó), cũng như việc chúng ta kiểm soát sự thay đổi của cơ thể mình. Vậy làm thế nào bạn có thể nói về một bản ngã?
Chúng ta không thể, Đức Phật nói. Tất nhiên, đây chỉ là một định lý nhận thức để có được vết nứt đầu tiên trong hình ảnh về bản thân thông qua lý luận.
Một ví dụ khác về nhận thức là suy nghĩ về thực tế của các khái niệm mà chúng ta thường sử dụng.
Lấy một ngôi nhà làm ví dụ. một ngôi nhà là gì? Nếu chúng ta dỡ bỏ mái nhà, cửa ra vào và cửa sổ, nó có còn là một ngôi nhà không? Ngôi nhà có phải là những bức tường, nền móng, mảnh đất mà nó đứng trên đó không? Chẳng mấy chốc bạn sẽ đi đến kết luận rằng một ngôi nhà chẳng qua chỉ là một khái niệm.
Tất nhiên, rất quan trọng để có thể nói chuyện với nhau, nhưng nó không tồn tại thực sự, không có giá trị nội tại.
Vấn đề là chúng ta vẫn coi trọng những thỏa thuận này, những khái niệm này. Chúng ta bám vào chúng như thể chúng có giá trị.
Tuy nhiên, cũng giống như vô thường và khổ, vô ngã cuối cùng có thể được chứng nghiệm bằng cách nhìn thấy sự sinh và diệt của nāma-rūpa.
Bất cứ ai thấy điều này chỉ có thể kết luận rằng không có thực thể trường tồn, rằng chỉ có những khoảnh khắc riêng biệt bị quy định và quy định lẫn nhau.
Kết luận này phù hợp với cuộc sống hàng ngày, vì mặc dù tại một số thời điểm, chúng ta không thể chọn cách cảm nhận nào đó, nhưng chúng ta có thể tạo điều kiện để một thuộc tính tinh thần nào đó xuất hiện thường xuyên hơn và vững chắc hơn.
Nếu chúng ta không nỗ lực, đây sẽ là những đặc tính bất thiện, được nuôi dưỡng bởi tham, sân và si. Nếu chúng ta nỗ lực, chúng ta có thể từ từ nhưng chắc chắn, rất kiên nhẫn thay thế những điều này bằng những điều tương ứng tích cực của chúng và do đó thanh lọc tâm chúng ta và làm cho nó dễ tiếp nhận tuệ giác giải thoát.
Có thể tốt hơn nếu đưa thêm một số sắc thái vào điều này để ngăn mọi người nghĩ rằng một cái nhìn sâu sắc như vậy đến một cách đột ngột.
Rốt cuộc, không được chú ý, chúng ta thường tạo ra một ý kiến riêng của bản thân.
Đó là, chúng ta nghĩ rằng “Tôi là cái này” và có thể tự suy luận về điều này. Với những vết rạn nứt đầu tiên phát sinh từ thiền định và quán chiếu về vô ngã, có thể quan điểm này giảm sức mạnh và dừng lại ở một điểm nào đó.
Bước tiếp theo là khi chúng ta nhận thấy rằng chúng ta vẫn có suy nghĩ “Tôi là”. Chúng ta có thể không còn có cái nhìn toàn diện về nó, nhưng vẫn trải nghiệm sự tồn tại ‘cá nhân’ của mình như một thực thể thực sự.
Bằng cách tiếp tục phát triển định và tuệ, điều này cũng có thể đạt được giác ngộ siêu việt vào một lúc nào đó.
Nhưng ngay cả khi đó chúng ta vẫn chưa kết thúc.
Ngay cả đối với những người đã thực hiện nỗ lực siêu phàm để vượt qua mức độ ‘tôi là’, nhận thức về ‘tôi’ vẫn còn. Bằng cách này, chúng ta muốn nói rằng ngay khi chúng ta mở mắt và nhìn vào thế giới, chúng ta làm điều này từ cái ‘tôi’.
Chỉ ở bước cuối cùng hướng tới sự giải thoát, cái “tôi” này mới có thể được từ bỏ.
Vì vậy, đừng nghĩ quá dễ dàng về việc từ bỏ bản ngã, vì điều đó không dễ dàng. Và đừng vui mừng quá nhiều (có thể chỉ một chút thôi) khi bạn đã thực hiện được một bước nhỏ đầu tiên, vì con đường còn dài và cần rất nhiều kiên nhẫn và nỗ lực để thực sự đạt đến mức độ sâu sắc nhất thông qua kinh nghiệm của chính mình về sự phát triển và tăng trưởng, sự diệt của các hiện tượng, sự đau khổ phát sinh do dính mắc vào chúng, và vô ngã vốn có trong chúng, và do đó chấm dứt sự bất toại nguyện của sự tồn tại.
Ham muốn là gốc rễ của đau khổ. BOEDDHA, MN 105
Sự thật cao quý thứ hai: Nguyên nhân
Chúng ta tiếp tục với một đoạn từ lời dạy đầu tiên của Đức Phật, lần này là về Diệu đế thứ hai, nguyên nhân của bất toại nguyện (SN 56:11):
“Bây giờ, các Tỳ-kheo, đây là chân lý cao quý về nguồn gốc của đau khổ: chính sự tham ái này dẫn đến sự tồn tại đổi mới, kèm theo niềm vui và ham muốn, tìm kiếm niềm vui ở đây và ở đó; Đó là, tham ái những thú vui nhục dục, khao khát tồn tại, khao khát sự hủy diệt.”
Đức Phật cũng dạy (DN 22):
“Và mong muốn này đến từ đâu và bắt nguồn từ đâu? Bất cứ nơi nào trên thế giới có những điều thích thú và khoái lạc, ham muốn này sẽ phát sinh và bén rễ. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và thức là khả lạc và đáng thích thú, đó là nơi phát sinh và bén rễ của tham ái này.”
“Các đối tượng hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc giác và các đối tượng tinh thần là dễ chịu và thú vị, đó là nơi mà ham muốn này bắt nguồn và bén rễ.”
“Ý thức, ấn tượng giác quan, cảm giác phát sinh từ ấn tượng giác quan, nhận thức, ý định, tham ái, suy nghĩ và phản ánh là dễ chịu và thú vị, đó là nơi mà ham muốn này nảy sinh và bén rễ.”
“Đây là sự thật cao quý thứ hai.”
Ham muốn dưới mọi hình thức, được nuôi dưỡng bởi sự thiếu hiểu biết về bản chất thực sự của sự vật, là nguyên nhân lớn nhất của mọi đau khổ trên thế giới.
Mặc dù chúng ta có xu hướng nghĩ rằng ham muốn luôn liên quan đến việc muốn một thứ gì đó, nhưng điều quan trọng là phải nhận ra rằng ham muốn cũng thể hiện ở dạng không muốn một thứ gì đó.
Hình thức cơ bản nhất của ham muốn là ham muốn giác quan (kāma-taṇhā).
Đây không chỉ là ham muốn nhục dục hay khiêu dâm, mà là tất cả các hình thức muốn hoặc không muốn phát sinh từ sự tiếp xúc của các giác quan của chúng ta với các đối tượng. Cho dù đó là điều gì đẹp đẽ hay khó chịu mà chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm nhận hay nghĩ về.
Điều thứ hai đáng được quan tâm nhiều hơn bởi vì Phật giáo định nghĩa tâm trí và các đối tượng tinh thần là giác quan thứ sáu bên cạnh năm giác quan mà chúng ta biết ở phương Tây. Do đó, ham muốn này cũng bao gồm mong muốn phát sinh từ ý tưởng, quan điểm, khái niệm và những thứ tương tự.
Khát khao được tồn tại vĩnh cửu (bhava-taṇhā) vi tế hơn điều trên.
Theo một nghĩa bề ngoài, đó là sự khao khát một thế giới bên kia, sự tái sinh hoặc, chẳng hạn, trở thành một với Brahma.
Theo một nghĩa sâu sắc hơn, đó là tất cả sự khao khát được ‘hiện hữu’, cho đến mức độ vi tế nhất.
Khát khao cuối cùng này chỉ bị tiêu diệt trong bước cuối cùng hướng tới giải thoát, nó dai dẳng như vậy đó. Nó là biểu hiện của quan điểm thường kiến, niềm tin vào một bản ngã trường tồn và vĩnh cửu.
Hình thức khao khát cuối cùng là khao khát tự hủy diệt hay không trở thành, không tồn tại nữa (vibhava-taṇhā).
Nó bắt nguồn từ một quan điểm hủy diệt, niềm tin rằng sau khi chết không còn gì cả. Điều này bao gồm chủ nghĩa duy vật như một quan điểm.
Chẳng hạn, khao khát này có thể là một lý do để tự tử với ý tưởng tiềm ẩn rằng đây là cách để chấm dứt đau khổ, bây giờ và trong tương lai.
Tuyệt đối không nên nhầm lẫn hình thức ham muốn này với mong muốn chấm dứt tái sinh trong luân hồi.
Thật vậy, điều sau chỉ có thể xảy ra thông qua việc tiêu diệt chính ham muốn bằng cách nhìn thấy bản chất thực sự của sự vật.
Chừng nào còn có ham muốn, dưới bất kỳ hình thức nào, sự tồn tại sẽ tiếp tục, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, từ cuộc sống này sang cuộc sống khác.
Cơ sở của năng lượng tuần hoàn này là học thuyết về sự sáng tạo phụ thuộc.
Duyên Khởi – Chuỗi Quan Hệ Nhân Quả
Nếu chúng ta nhìn vào nguyên nhân của bất toại nguyện, Thánh đế thứ hai, chúng ta thấy rằng Đức Phật đề cập đến dục vọng như một vấn đề lớn.
Dục vọng bắt nguồn từ vô minh. Nhưng làm sao lòng ham muốn này có thể gây ra mọi đau khổ và tái sinh?
Câu trả lời là giáo lý duyên khởi (paṭiccasamuppāda).
Cùng với Tứ Diệu Đế, nó tạo thành nền tảng của Pháp. Cùng với nhau, chúng tạo thành tuệ giác giải thoát mà Đức Phật đã đạt được trong đêm thành đạo.
Đức Phật nhấn mạnh điều này bằng những lời (MN 28):
“Ai thấy Pháp là thấy lý duyên khởi. Ai thấy duyên khởi là thấy Pháp.”
Chúng ta sẽ bắt đầu bằng một con đường vòng, cụ thể là lấy kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta làm điểm xuất phát.
Cả tâm và vật chất đều trở nên méo mó trong quá trình nhận thức của chúng ta.
Ví dụ, trong kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta, việc nhìn thấy điều gì đó, biết nó là gì, hình thành ý kiến về nó, muốn hay không muốn điều đó, dường như tất cả đều xảy ra cùng một lúc. Trên thực tế, điều này dường như xảy ra đồng thời với việc nghe, ngửi, nếm, chạm và suy nghĩ.
Khi nhìn vào vật chất, chẳng hạn như một tảng đá, bạn sẽ thấy một hình dạng vĩnh viễn có lẽ chỉ thay đổi từ từ theo gió và thời tiết.
Nhưng đây là một nhận thức méo mó về các quá trình tinh thần và vật chất do vô minh, kết quả của việc không (chưa) có thể nhìn đủ sắc bén.
Nó có thể so sánh với một bộ phim. Nếu bạn đã từng đến rạp chiếu phim, bạn sẽ biết rằng bạn có thể hoàn toàn bị cuốn hút vào câu chuyện, những hình ảnh đẹp và âm nhạc chuyển động.
Tuy nhiên, trên thực tế, bộ phim bao gồm các hình ảnh riêng biệt xuất hiện trước mắt chúng ta với tốc độ ít nhất là 24 khung hình một giây. Điều đó là đủ để hình ảnh có vẻ trôi chảy. Âm thanh không gì khác hơn là những âm thanh lỏng lẻo chỉ tạo thành một tổng thể khi được ghép lại với nhau. Và câu chuyện không có thật nhưng được nghĩ ra, và chúng ta không thực sự ở giữa nó, mặc dù đó là cảm giác của nó.
Nếu bạn nhìn vào các quá trình tâm và vật chất với mức độ tập trung cao độ, bạn có thể thấy rằng chúng bao gồm những khoảnh khắc sinh và diệt riêng biệt.
Những khoảnh khắc tinh thần này nối tiếp nhau với tốc độ không thể tin được, tạo ra ảo tưởng rằng nhận thức là một quá trình liên tục.
Mỗi khoảnh khắc riêng biệt này đều có một đối tượng và nó luôn liên quan đến một trong sáu giác quan. Các giác quan không hoạt động cùng một lúc, bạn thấy, nghe, nếm, ngửi, cảm nhận hoặc suy nghĩ, cái này nối tiếp cái kia, không bao giờ cùng một lúc.
Và vật chất không trường tồn như vẻ ngoài của nó mà là một dòng liên tục sinh ra và diệt vong.
Do đó, với sự tập trung cao độ, có thể kết luận từ kinh nghiệm của chính bạn rằng ý thức bình thường của chúng ta hoàn toàn bóp méo thực tế.
Tiến trình có vẻ là liên tục thực ra bao gồm những phần riêng biệt sinh và diệt trong mọi khía cạnh.
Điều này có thể được gọi là ‘phân tích’ thực tế, sự phân chia thực tế, các quá trình tinh thần và vật chất, thành các khối xây dựng nhỏ nhất có thể.
Điều mà duyên khởi cho chúng ta thấy là những khoảnh khắc này, mặc dù tách rời nhau, nhưng vẫn liên kết với nhau.
Do đó, duyên khởi có thể được xem như là ‘sự tổng hợp’, mô tả các mối quan hệ hỗ tương của các khối xây dựng riêng biệt.
Đây là một điểm quan trọng mà nhờ đó Đức Phật tránh xa chủ nghĩa hư vô. Nó có nghĩa là ý định và hành động tiếp theo có hậu quả.
Nếu có những khoảnh khắc riêng biệt mà không có sự kết nối với nhau, thì bất kỳ hành vi nào cũng có thể được biện minh.
Đây là điều quan trọng nhất của duyên khởi, là hy vọng mà nó mang lại. Vì đó là mối quan hệ có điều kiện giữa các khoảnh khắc mà bạn có thể làm việc một cách chậm rãi nhưng chắc chắn, với ý định là động lực của ý chí tự do.
Trước khi đi xa hơn, chúng ta hãy xem xét kỹ hơn những gì chính Đức Phật đã dạy về duyên khởi (SN 12:1):
“Và này các Tỷ-kheo, duyên khởi là gì? Với vô minh (avijjā) làm điều kiện, hành (saṅkhāra’s) hình thành; với hành làm duyên, thức (viññāṇa); với thức làm duyên, danh-sắc (nāma-rūpa); với danh và sắc làm duyên, lục nhập (salāyatana); với lục nhập là duyên, xúc (phassa); với xúc là duyên, thọ (vedanā); với thọ làm duyên, ái (taṇhā); với ái là duyên, thủ (upādāna); với sự bám víu như điều kiện, sự tồn tại (bhava); với hiện hữu là điều kiện, sinh (jāti); với sinh là điều kiện, già và chết (jaramaranam), sầu, bi, khổ, ưu, và não sẽ hiện hữu. Đó là nguồn gốc của toàn bộ khối đau khổ này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là duyên khởi. Nhưng với sự tan biến không ngừng và sự chấm dứt của vô minh thì các hành cũng chấm dứt; với sự chấm dứt hành, thức chấm dứt; với thức diệt, danh sắc diệt; với sự chấm dứt danh sắc, sự chấm dứt sáu căn; với sự chấm dứt của sáu căn, sự chấm dứt của xúc; với sự đoạn diệt của xúc, đoạn diệt của thọ; với sự đoạn diệt thọ, đoạn diệt ái dục; với sự đoạn tận ái, đoạn diệt thủ; với sự chấm dứt dính mắc, sự chấm dứt hiện hữu; với sự chấm dứt hiện hữu, chấm dứt sinh; với sự chấm dứt của sinh, già và chết, sầu, bi, đau, buồn, và tuyệt vọng chấm dứt. Đó là sự chấm dứt toàn bộ khối đau khổ này.”
Ở đây duyên khởi được giải thích là chuỗi quan hệ nhân quả.
Nó là xiềng xích vì nó trói buộc chúng ta trong luân hồi. Đó là một vòng tròn từ hiện hữu này sang hiện hữu khác do vô minh và dục vọng điều khiển.
Để nhấn mạnh điều này, mười hai mắt xích của chuỗi thường trải dài trong ba đời. Cuộc sống quá khứ, hiện tại và tương lai.
Vô minh và hành được đặt cạnh nhau trong kiếp trước. Chúng tạo thành những điều kiện cho sự phát sinh của kiếp sống hiện tại, cụ thể là bằng cách làm điều kiện cho sự nối kết của các quả thức, danh-sắc, lục nhập, xúc và thọ.
Do kết quả của thọ mà chúng ta có ái, thủ và hiện hữu trong đời này, làm duyên cho đời sau với sinh, già và chết.
Mặc dù ba kiếp sống thường được đưa ra làm ví dụ, nhưng điều kiện này cũng xảy ra trong từng khoảnh khắc trong cuộc sống hiện tại này. Trong cuộc sống hàng ngày, những điều kiện này không tuần tự mà đan xen lẫn nhau.
Để làm cho nó đơn giản hơn, chỉ cần nhìn vào chuỗi trong cuộc sống này.
Bởi vì hiện nay chúng ta không biết về bản chất thực sự của các quá trình tinh thần và vật chất, nên chúng ta rất coi trọng cảm giác phát sinh từ sự tiếp xúc mà chúng ta tạo ra với các đối tượng thông qua các giác quan.
Kết quả của cảm giác này, có thể dễ chịu, khó chịu hay trung tính, là chúng ta muốn hoặc không muốn điều gì đó. Tham ái phát sinh.
Bị thúc đẩy bởi ái và thủ, chúng ta làm những việc thiện và ác, chúng ta có những tâm sở thiện và bất thiện.
Người đọc chăm chú sẽ ngay lập tức thấy rằng sự thiếu hiểu biết trong chuỗi được theo sau bởi sự hình thành ý chí. Sự hình thành ý chí, cũng có thể được dịch là ý định, không gì khác hơn là nghiệp (Pali: kamma) mà chúng ta sẽ xem xét sau.
Thông qua tham ái và bám víu, chúng ta có những ý định mới và vì vậy chúng ta tạo ra nghiệp mới, và cứ thế lặp đi lặp lại.
Nếu công thức được đưa ra trước đó ở dạng “khi cái này là, cái kia là” gây ra sự nghi ngờ rằng Đức Phật dạy một sự phụ thuộc ngẫu nhiên thì hãy xem xét (SN 12:20):
“Và này các Tỷ-kheo, duyên khởi là gì? ‘Có sinh làm duyên, già chết có’: dù có Như Lai sinh hay không có Như Lai sinh, yếu tố đó vẫn tồn tại, tính ổn định của Giáo pháp, tiến trình cố định của Giáo pháp, nhân duyên cụ thể. Một Như Lai thức tỉnh điều này và đột phá nó. Sau khi làm như vậy, vị ấy giải thích nó, dạy nó, công bố nó, thiết lập nó, tiết lộ nó, phân tích nó, làm sáng tỏ nó. Và anh ấy nói: ‘Thấy chưa! Này các Tỷ-kheo, có sinh là duyên, già và chết.’”
Lưu ý các từ ‘nhân duyên cụ thể’.
Với lời dạy này, Đức Phật không mô tả một nguyên tắc chung mà là một định luật tuyệt đối. Một lực tròn ràng buộc chúng ta.
Không thể nhấn mạnh đủ rằng chuỗi này cứ tiếp tục, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác, từ kiếp này sang kiếp khác.
Sinh rồi bệnh, già rồi chết, rồi lại sinh, bệnh rồi già chết, hết lần này đến lần khác.
Vì vậy, chúng ta bị mắc kẹt trong luân hồi, chúng ta lang thang khắp nơi, dẫn đến ‘sầu, bi, khổ, ưu, não, sự bất toại nguyện của cuộc sống’.
Niềm vui tạm thời nhất thời, mặc dù hấp dẫn, không đưa ra giải pháp, không có nơi trú ẩn an toàn.
Cách duy nhất để bước ra khỏi vòng trói buộc là nhìn thấy bản chất thực sự của sự vật bằng cách dấn thân vào con đường do Đức Phật chỉ ra và do đó phá vỡ hoàn toàn xiềng xích.
Đây là thông điệp đầy hy vọng của Đức Phật.
Bởi vì đây là những điều kiện cụ thể, một kết thúc là có thể. Khi vô minh được thấy như nó thực sự là, ánh sáng của Giáo pháp tỏa sáng và xiềng xích sụp đổ.
Giải thoát là có thể.
Nghiệp và Tái sinh
Học thuyết về nghiệp (tiếng Pali: kamma) và tái sinh thường bị hiểu lầm.
Đôi khi bạn nghe người ta nói theo kiểu định mệnh “đó là nghiệp chướng của tôi” hoặc với mong muốn mang lại ý nghĩa cho sự đau khổ của họ “có lẽ điều đó tốt cho một điều gì đó”.
Khi nói về nghiệp như vậy, nó giống như một định mệnh không thể tránh khỏi hoặc một sức mạnh lớn hơn đang diễn ra, một thẩm phán ấn định nghiệp để trừng phạt hoặc dạy dỗ.
Bản chất của sự tái sinh thường bị chôn vùi dưới hình ảnh luân hồi, ý tưởng (theo Đức Phật sai) rằng có một linh hồn di cư từ kiếp này sang kiếp khác. Đôi khi người ta còn nói rằng một người có tâm hồn già nua hoặc tâm hồn này già hơn tâm hồn khác.
Ngoài ra, điều đáng chú ý là các tác giả Phật giáo phương Tây thường bác bỏ hoàn toàn giáo lý về nghiệp và tái sinh.
Họ tranh luận rằng lời dạy này không phù hợp với lời dạy rất hợp lý và dựa trên kinh nghiệm của Đức Phật, và cũng không cần thiết phải suy nghĩ về điều này chút nào để tiến bộ trên con đường.
Dưới ánh sáng của những hình ảnh và tuyên bố như vậy, điều rất quan trọng là phải suy ngẫm về những lời dạy về nghiệp và tái sinh.
Đầu tiên, chúng ta hãy xem xét ý nghĩa của từ nghiệp.
Trái ngược với cách từ nghiệp thường được sử dụng ở phương Tây, nó không có nghĩa là ‘hậu quả’. Đức Phật nói (AN 6:63):
“Ý định, tôi nói với bạn, là nghiệp. Có ý định, người ta tạo nghiệp bằng thân, khẩu và ý.”
Vì vậy, Karma là một động lực nhiều hơn.
Từ tiếng Pali cho hậu quả hoặc phản ứng là vipāka. Do đó, Kamma-vipāka cũng có nghĩa là hành động-phản ứng, nhưng một bản dịch hay hơn là ‘ý định và quả của nó’. Quả vì vipāka cũng có nghĩa là ‘chín’.
Chúng ta biết thành ngữ “gieo nhân nào gặt quả nấy”, đây là sự mô tả về kamma-vipāka.
Giống như sự chín muồi của những gì gieo trồng phụ thuộc vào nước, mặt trời và chất dinh dưỡng cùng nhiều thứ khác, sự chín muồi của nghiệp cũng phụ thuộc vào một số yếu tố.
Karma không phải lúc nào cũng được thể hiện tỷ lệ thuận trong mối quan hệ gọn gàng một đối một với kết quả. Có nhiều mức độ khác nhau, sức mạnh khác nhau của nghiệp mà nghiệp này tương tác với nghiệp khác từ quá khứ gần hay xa và nó cũng phụ thuộc vào nỗ lực hiện tại.
Ví dụ, quả của nghiệp đôi khi có thể mạnh hơn do nghiệp hỗ trợ khác, yếu đi do nghiệp đối lập hoặc bị kìm hãm bởi nghiệp phá hoại.
Hơn nữa, giống như sự chín của trái cây, không chỉ đòi hỏi sự phát triển của cây trái qua nắng, mưa và chất dinh dưỡng, mà còn phải đúng mùa để đơm hoa kết trái, nghiệp phải có những điều kiện thích hợp để nó chín.
Ví dụ, một số nghiệp có thể không thể tạo ra kết quả vì không có điều kiện thích hợp, vì vậy sẽ có nhiều thời gian hơn để các nghiệp khác được tạo ra có thể chống lại nó nếu nó là bất thiện hoặc tăng cường nếu nó là thiện.
Điều này rất quan trọng vì nó cung cấp đủ không gian để có thể phát triển tâm linh.
Trong mối quan hệ một đối một chặt chẽ, nghiệp vô tận từ quá khứ vô tận sẽ mang lại kết quả vô tận trong tương lai.
Chính bởi vì đây không phải là trường hợp ảnh hưởng có thể được tác động bằng ý định điều khiển và sự giải thoát là có thể.
Karma có thể được phân loại thành phẩm chất đạo đức, tức là. thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp.
Thiện nghiệp là những ý định dẫn đến sự mở rộng tâm thức, tái sinh vào những thế giới cao hơn và cuối cùng là Niết Bàn.
Nghiệp bất thiện là những ý định dẫn đến việc thu hẹp tâm thức, tái sinh vào những cõi thấp và quay lưng lại với Niết Bàn.
Khi chúng ta nói về tái sinh, có hai điểm quan trọng. Đầu tiên là không có cái “tôi”, không có “con người” hay “linh hồn” nào chuyển từ kiếp này sang kiếp khác.
Tái sinh là kết quả của các điều kiện.
Một ví dụ thường được đưa ra để làm rõ điều này là ngọn lửa từ một ngọn nến được dùng để thắp sáng một ngọn nến khác. Ngọn lửa của ngọn nến thứ hai không giống nhưng cũng không hoàn toàn khác ngọn lửa của ngọn nến thứ nhất. Ngọn lửa của ngọn nến thứ hai ở đó là do, tùy thuộc vào ngọn nến đầu tiên.
Một ví dụ hiện đại hơn là quả bóng bi-a có hướng và sức mạnh của nó là kết quả của quả bóng chạm vào nó, từ đó tạo ra sức mạnh và hướng cho quả bóng tiếp theo. Các quả bóng không giống nhau, nhưng chuyển động của chúng không thể được coi là tách biệt với nhau.
Tương tự như vậy, tái sinh không phải là sự đầu thai của linh hồn mà là sự tiếp tục của các sát-na tâm dựa trên các điều kiện.
Các giáo lý về kamma-vipāka và tái sinh đan xen sâu sắc với paṭiccasamuppāda, duyên khởi mà chúng ta đã giải thích trong chương trước.
Khi nói về duyên khởi Đức Phật nói rằng nó tương đương với chính Giáo Pháp.
Do đó, sự lựa chọn của một số tác giả phương Tây để hoàn toàn bỏ qua nghiệp và tái sinh dường như là một sự lựa chọn cá nhân rất chọn lọc, không tương ứng với lời dạy của Đức Phật.
Tất nhiên, không cần thiết phải tin một cách mù quáng vào nghiệp và tái sinh, nhưng nên giữ một tâm hồn cởi mở và ham học hỏi.
Đừng bác bỏ nghiệp chướng ngay lập tức mà hãy nhận ra những hạn chế của tâm thức chưa phát triển của chính mình và chỉ dám rút ra kết luận một cách từ từ, sau khi đã có được những hiểu biết của riêng mình từ sự rèn luyện tâm vững vàng qua giới, định và tuệ.
Ahba lặp đi lặp lại điều đó, không chỉ khi nói về những thứ như nghiệp chướng, mà còn trong những tình huống khác khi điều gì đó vượt ra ngoài tâm trí phương Tây của chúng ta:
“Bây giờ tâm bạn chưa đủ mạnh nên bạn không thấy. Nếu bạn phát triển định tâm và tâm bạn trở nên mạnh mẽ hơn, bạn sẽ tự thấy điều đó.”
Đơn giản.
Cũng như hoa sen xanh, đỏ hay trắng, tuy sinh ra trong nước và lớn lên trong nước, vươn lên trên mặt nước và đứng trên mặt nước không bị vấy bẩn, cũng vậy, dù sinh ra trong thế gian và lớn lên trong thế gian, Tôi đã chiến thắng thế giới và sống không bị thế giới vấy bẩn. Này bà la môn, hãy nhớ ta như một vị Phật. BUDDHA, AN 4:36
Diệu đế thứ ba: Giải thoát
Chúng ta hãy bắt đầu lại với một đoạn trong lời dạy đầu tiên của Đức Phật, lần này là về Diệu đế thứ ba, sự chấm dứt khổ (SN 56:11):
“Bây giờ, này các Tỷ-kheo, đây là chân lý cao quý về sự chấm dứt đau khổ: đó là sự tàn lụi không còn sót lại và sự chấm dứt của cùng một sự ham muốn đó, sự từ bỏ và từ bỏ nó, thoát khỏi nó, không phụ thuộc vào nó.”
niết bàn
Sự giải thoát khỏi sự bất toại nguyện sâu xa nhất bằng sự hủy diệt không thể đảo ngược của tham, sân và si – sự giải thoát khỏi sự lang thang bất tận đó là luân hồi – đó là điều mà trong Phật giáo gọi là sự chứng đắc Niết Bàn.
Nibbāna có thể được dịch là sự dập tắt, sự dập tắt ngọn lửa của tham, sân và si.
Sau đó, khi người ta cho rằng ở Ấn Độ cổ đại, việc dập tắt củi đang cháy cũng được coi là sự loại bỏ lửa, không có gì lạ khi Nibbāna có nghĩa là cả sự dập tắt và giải thoát.
Niết Bàn là mục tiêu tối hậu của Giáo Pháp và mặc dù, như đã nói, nó đồng nghĩa với sự giải thoát và sự diệt vong của một điều gì đó, nhưng tự nó cũng là một thực tại, như Đức Phật đã nói:
“Trong tất cả các Pháp, dù có điều kiện hay không, Pháp tuyệt vời nhất, Pháp cao nhất, là Niết Bàn.”
Dhamma trong ngữ cảnh này có nghĩa là ‘hiện tượng tối hậu’, một thực tại đang tồn tại mà tâm có thể trải nghiệm như một đối tượng.
Bản thân Đức Phật chưa bao giờ nói Niết bàn là gì.
Nếu bạn phải giải thích cho một người chưa bao giờ ăn xoài biết vị xoài như thế nào, bạn sẽ nhanh chóng thất bại.
Bạn sẽ so sánh với những gì đã biết để mô tả kết cấu, độ ngọt, độ chua, v.v. Tuy nhiên, cách duy nhất để biết hương vị của xoài là tự mình nếm thử.
Nếu gần như không thể giải thích hương vị của trái xoài, một vật thể trần tục và ở một mức độ nào đó có thể so sánh với những thứ xung quanh chúng ta, thì việc so sánh đối với Niết Bàn siêu nhiên vượt trên mọi kinh nghiệm là điều không thể.
Những gì chúng ta biết là Nibbāna, không giống như tất cả các hiện tượng khác trên thế giới, là vô điều kiện (không bị điều kiện hóa và không tạo ra những điều kiện mới) và thường hằng, nhưng giống như mọi thứ khác, Nibbāna không có ngã (anattā).
Nó không thể được lặp đi lặp lại đủ, việc đạt được Niết bàn không phải là sự hợp nhất của một bản ngã với một cái gì đó cao hơn, Nibbāna là anattā, không có bản ngã.
Nếu chúng ta tìm trong Kinh điển Pali những gì Đức Phật nói về Niết bàn, chúng ta sẽ thấy ví dụ (AN 3:32):
“Đây là an lạc, đây là cao thượng, đó là, mọi hoạt động đều dừng lại, từ bỏ mọi sở đắc, sự đoạn diệt tham ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.”
Bốn Giai Đoạn Giải Thoát
Đạt được sự giải thoát hoàn toàn tối hậu khỏi khổ (dukkha) là một tiến trình dần dần bao gồm bốn giai đoạn.
Vào thời Đức Phật, có những người có những ba la mật (phẩm chất tinh thần cụ thể) tốt đến mức sau khi nghe một bài kệ từ Đức Phật, họ đã trải qua tất cả các giai đoạn cùng một lúc, nhưng ngày nay, do trạng thái tinh thần của con người đã suy giảm. , chúng ta không cần phải ảo tưởng rằng điều này sẽ xảy ra với mình, chúng ta sẽ phải làm việc thật chăm chỉ.
Trước khi dấn thân vào con đường dẫn đến giải thoát, một người là một anda-puttujana, nghĩa là một công dân thế giới mù quáng.
Khi người công dân trong thế giới mù nghe Pháp, được truyền cảm hứng và bắt đầu hành đạo bằng cách thực hành giới, định và tuệ, anh ta dần dần nhưng chắc chắn trở thành một kalyāṇa-puttujana, một công dân cao quý của thế giới, một người bước đi trên con đường giải thoát.
Sau nỗ lực kéo dài, kiên nhẫn và bền bỉ, con đường cuối cùng dẫn đến Niết Bàn qua bốn giai đoạn.
Vào thời điểm mà Niết Bàn lần đầu tiên được tâm lấy làm đối tượng, hành giả đạt đến giai đoạn đầu tiên, giai đoạn Nhập Lưu (Sotāpanna).
Điều này có nghĩa là một người bước vào dòng chảy dẫn đến giải thoát hoàn toàn trong vòng bảy kiếp không thể hủy hoại, và người đó chắc chắn sẽ tái sinh trong cõi người hoặc một trong những cõi cao hơn. Từ thời điểm đó trở đi sẽ không còn đau khổ lớn nữa, như tái sinh trong một thế giới địa ngục hay tương tự.
Giai đoạn này được đặc trưng bởi niềm tin không thể lay chuyển vào Đức Phật, Pháp và Tăng do kinh nghiệm của chính mình, và kiên trì không thể vi phạm các giới luật đạo đức của Đức Phật.
Qua kinh nghiệm xa hơn và sâu sắc hơn với Niết Bàn, giai đoạn tiếp theo đó là giai đoạn Nhất lai (Sakadāgāmī), chỉ còn lại một kiếp sống trong tương lai trước khi đạt được sự giải thoát hoàn toàn. Ở giai đoạn này, tham và sân bị suy yếu nghiêm trọng.
Tiếp đến là giai đoạn Bất lai (Anāgāmī), người sau khi chết sẽ tái sinh vào một cảnh giới rất cao nơi người đó cư trú cho đến khi đạt được Niết bàn. Ở giai đoạn này, tham và sân bị tiêu diệt hoàn toàn và vĩnh viễn.
Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn của bậc A-la-hán (Arahat), vị này ngay trong kiếp này đã đạt được sự giải thoát hoàn toàn bằng cách loại bỏ tận gốc tận gốc những ô nhiễm tinh thần cuối cùng, đặc biệt là quan điểm cực kỳ ngoan cố và rất vi tế rằng có một cái ‘tôi’.
Sau khi chết, vị A-la-hán nhập Niết-bàn, nghĩa là ‘Niết-bàn không có thân khác’.
Những câu hỏi như đây là đâu? Đây có phải là một nơi? Hay trong cùng một bối cảnh, Đức Phật ở đâu? Có phải những câu hỏi sai lầm phát sinh từ quan điểm rằng có một cái ‘tôi’ đang đi ‘đến một nơi nào đó’ khi chính việc từ bỏ điều này là một đặc tính xác định của sự giải thoát hoàn toàn.
Từ những điều trên, có thể kết luận rằng điều vô cùng quan trọng là phấn đấu cho giai đoạn đầu tiên, giai đoạn nhập lưu, để đạt đến nơi trú ẩn an toàn, trong đó sẽ không còn đau khổ lớn lao trong tương lai và sự giải thoát sẽ đến với bạn một cách chắc chắn.
Theo lời của Ahba: “Bây giờ con không chắc chắn về tương lai của mình, nhưng nếu con tiếp tục tu tập, tiếp tục cố gắng, thì con sẽ đạt được sự chắc chắn, rồi sẽ không còn đau khổ lớn lao nữa.”
Cái gì không phải của mình, hãy từ bỏ nó; khi bạn đã từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn đến phúc lợi và hạnh phúc của bạn trong một thời gian dài. BUDDHA, MN 22
Chân lý thứ tư: Bát chánh đạo
Đoạn từ lời dạy đầu tiên của Đức Phật về Diệu đế thứ tư, con đường giải thoát khỏi bất toại nguyện, đọc (SN 56:11):
“Bây giờ, này các Tỷ-kheo, đây là chân lý cao quý về con đường đưa đến đoạn diệt khổ: đó là Bát Thánh Đạo; đó là chánh kiến (sammā diṭṭhi), chánh tư duy (sammā saṅkappa), chánh ngữ (sammā vācā), chánh nghiệp (sammā kammanta), chánh mạng (sammā ājīva), chánh tinh tấn (sammā vāyāma), chánh niệm (sammā sati ) và chánh định (sammā samādhi).”
Bát Chánh Đạo này có thể được tóm tắt bằng ba pháp tu tập giới, định và tuệ.
Đạo đức bao gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Định bao gồm chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Và trí tuệ bao gồm chánh kiến và chánh tư duy.
Để cung cấp một nền tảng về ý nghĩa của các yếu tố con đường này trong cấu trúc của thực hành ba phần thông qua các đoạn trong kinh. Sau đó, chúng ta sẽ tập trung vào thực hành ba phần tổng thể.
Trí Tuệ: Chánh Kiến và Chánh Định
Hãy bắt đầu với chánh kiến.
Tóm lại, nhìn qua kinh nghiệm cá nhân mọi thứ mà chúng tôi đã viết cho đến bây giờ là chánh kiến, tức là tuệ giác về Tứ Diệu Đế (DN 22):
“Bây giờ, này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến (sammā-diṭṭhi)? Này các Tỷ-kheo, đó là trí về khổ, trí về nguồn gốc của khổ, trí về sự chấm dứt khổ, trí về sự tu tập đưa đến sự chấm dứt khổ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh kiến.”
Tất nhiên, điều này bao gồm duyên khởi, nghiệp và quả của nó, biết điều gì là thiện và điều gì là bất thiện, ba đặc tính, v.v.
Có nhiều giai đoạn khác nhau của chánh kiến, hay sự hiểu biết.
Giai đoạn đầu tiên là hiểu bằng cách đọc và nghiên cứu văn bản, giai đoạn thứ hai là hiểu bằng cách suy ngẫm và suy ngẫm lặp đi lặp lại những gì đã đọc và nghiên cứu và giai đoạn thứ ba (quan trọng nhất) là hiểu biết giải thoát chỉ có thể phát sinh thông qua kinh nghiệm của chính mình bằng cách sự tu tập giới và định.
Về chánh định, yếu tố con đường thứ hai là một phần của trí tuệ, Đức Phật dạy (DN 22):
“Bây giờ, này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh định (sammā-saṅkappa)? Tác ý xuất gia (nekkhamma-saṅkappa), tác ý không sân (abyāpāda-saṅkappa), tác ý bất hại (avihiṃsā-saṅkappa). Đây là ý định đúng đắn.”
Trước đó chúng ta đã thảo luận rằng khi Đức Phật nói về ý định, ngài nói về nghiệp và do đó ý định là động lực của ý chí tự do. Ý định đúng đắn có thể nói là những suy nghĩ tập trung tâm trí của chúng ta vào những gì trong sáng.
Đạo đức: Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng
Sống lâu hơn trên đạo đức bao giờ cũng tốt hơn là trên tuệ giác.
Chúng ta có khuynh hướng mong muốn tuệ giác và tập trung mọi sự chú ý vào nó, mà quên rằng đạo đức là nền tảng không thể thiếu và có nhiều chiều sâu trong thực hành hàng ngày.
Bắt đầu với chánh ngữ trong lời Phật dạy (DN 22):
“Và chánh ngữ là gì? Không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời lăng mạ và không nói chuyện tầm phào: Đây gọi là chánh ngữ (sammā vācā)?”
Và xa hơn nữa (AN 10:176):
“Và làm thế nào một người trở nên ô uế theo bốn cách bằng hành động bằng lời nói? Có trường hợp một người nào đó tham gia vào lời nói sai. Khi anh ta được gọi đến một cuộc họp thị trấn, một cuộc họp nhóm, một cuộc tụ họp của người thân, bang hội của anh ta, hoặc của hoàng gia [tức là một thủ tục tố tụng của tòa án hoàng gia], nếu anh ta được yêu cầu làm nhân chứng, ‘Hãy đến và nói, người đàn ông tốt, những gì bạn biết’: Nếu anh ta không biết, anh ta nói, ‘Tôi biết.’ Nếu anh ta biết, anh ta nói, ‘Tôi không biết.’ Nếu anh ta không nhìn thấy, anh ta nói, ‘Tôi đã thấy.’ Nếu anh ta đã nhìn thấy, anh ta nói, ‘Tôi chưa thấy.’ Do đó, anh ta có ý thức nói dối vì lợi ích của chính mình, vì lợi ích của người khác, hoặc vì lợi ích của một phần thưởng nào đó. Anh ta tham gia vào bài phát biểu gây chia rẽ. Những gì anh ta đã nghe ở đây, anh ta nói ở đó hãy tách những người đó ra khỏi những người này ở đây. Những gì anh ta đã nghe ở đó, anh ta nói ở đây hãy tách những người này ra khỏi những người ở đó. Do đó, phá vỡ những người đoàn kết và khuấy động xung đột giữa những người đã tan rã, anh ấy yêu chủ nghĩa bè phái, thích chủ nghĩa bè phái, thích chủ nghĩa bè phái, nói những điều tạo ra chủ nghĩa bè phái. Anh ta tham gia vào lời nói lăng mạ. Anh ta nói những lời khắc nghiệt, cắt xén, cay đắng với người khác, lạm dụng người khác, kích động sự tức giận và phá hủy sự tập trung. Anh ta tham gia vào cuộc trò chuyện nhàn rỗi. Lời nói trái, nói không đúng sự thật, không đúng mục đích, không hợp với Giáo pháp, Luật tạng, những lời nói không đáng trân trọng. Đây là cách một người bị làm cho bất tịnh theo bốn cách bằng hành động lời nói.”
Và đoạn văn ngắn này cũng đáng được chú ý (MN 61):
Tôi nghe rằng, một thời Thế Tôn trú ở gần thành Vương Xá, tại khu rừng trúc, nơi kiếm ăn của loài sóc.
Lúc đó Ven. Rahula trú tại Xoài Đá. Rồi Thế Tôn, từ nơi ẩn cư ra đi vào lúc xế chiều, đi đến chỗ Ven. Rahula trú tại Xoài Đá. Ven. Rahula thấy ông từ xa đi đến, khi thấy ông, đặt một chỗ ngồi và nước để rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã đặt sẵn, sau khi ngồi xuống, rửa chân. Ven. Rahula đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn, sau khi còn lại một ít nước trong gáo nước, đã nói với Đại đức: Rahula, “Rahula, con có thấy một chút nước còn sót lại trong gáo nước không?”
“Vâng thưa ngài.”
“Đó là mức độ tiến bộ tâm linh nhỏ nhoi đối với bất kỳ ai không cảm thấy xấu hổ khi cố ý nói dối.” Sau khi hất đi chút nước còn thừa, Đức Thế Tôn nói với Đại đức: Rahula, “Rahula, con có thấy chút nước thừa này được đổ đi như thế nào không?”
“Vâng thưa ngài.”
“Rahula, bất cứ sự tiến bộ tâm linh nào của người nào không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối đều bị ném đi như vậy.” Sau khi lật ngược cái gáo nước, Đức Thế Tôn nói với Ven. Rahula, “Rahula, con có thấy cái gáo nước này bị lộn ngược như thế nào không?”
“Vâng thưa ngài.”
“Rahula, bất kỳ sự tiến bộ tâm linh nào của người không cảm thấy xấu hổ khi cố ý nói dối đều bị đảo lộn như vậy.” Sau khi lật úp gáo nước, Đức Thế Tôn nói với Đại đức: Rahula, “Rahula, con có thấy cái gáo nước này trống không không?”
“Vâng thưa ngài.”
“Rahula, bất cứ điều gì có một người trầm tư trong bất cứ ai không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối đều trống rỗng như thế.”
Sau đây là về hành động đúng đắn (DN 22):
“Và hành động đúng đắn là gì? Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm. Đây gọi là hành động đúng.”
Và xa hơn nữa (AN 10:176):
“Và làm thế nào một người bị làm ô uế theo ba cách bởi hành động của thân (sammā sammatta)? Lại có trường hợp một người sát sanh, là một thợ săn, tay đẫm máu, chuyên sát sanh, không thương xót chúng sanh. Anh ta lấy những gì không được cho. Anh ta lấy, theo cách của một tên trộm, những thứ trong một ngôi làng hoặc một vùng hoang dã thuộc về người khác và không được họ cho. Anh ta tham gia vào hành vi sai trái nhục dục. Anh ta quan hệ tình dục với những người được bảo vệ bởi mẹ, cha, anh, chị em, họ hàng hoặc Giáo pháp của họ; những người có chồng, những người phải chịu hình phạt, hoặc thậm chí những người được người đàn ông khác đội vòng hoa. Đây là cách một người bị làm ô uế theo ba cách bởi hành động của thân.”
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, chánh mạng (DN 22):
“Và chánh mạng hay sinh kế đúng đắn là gì? Có trường hợp đệ tử của các bậc Thánh, bỏ nghề bất chính, sống theo chánh mạng: Đó gọi là chánh mạng.”
Bởi vì đoạn văn bản này vẫn còn khá khó hiểu, nghiên cứu một đoạn văn khác để nắm bắt thực tế hơn (AN 5:177):
“Đệ tử nên tránh năm nghề: buôn binh khí, buôn chúng sinh, buôn thịt, chất gây nghiện say và chất độc”.
Định: Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định
Đức Phật nói về chánh tinh tấn (DN 22):
“Và thế nào là chánh tinh tấn (sammā vāyāma)? Có trường hợp Tỳ kheo phát khởi tham muốn, tinh tấn, phát khởi kiên trì, hộ trì & nỗ lực vì mục đích khiến các ác pháp chưa sinh khởi, các pháp chưa sinh khởi… với mục đích đoạn trừ các pháp ác, các pháp chưa thiện xảo. đã phát sinh… vì sự phát sinh của những phẩm chất thiện xảo chưa phát sinh… (và) để duy trì, không mê lầm, tăng trưởng, viên mãn, phát triển và đạt đến tột đỉnh những phẩm chất thiện xảo đã phát sinh: Đây được gọi là chánh tinh tấn .”
Lời dạy của Đức Phật về chánh niệm là (DN 22):
“Và chánh niệm (sammā sati) là gì? Có trường hợp một vị tỳ kheo vẫn tập trung vào thân tự thân — tinh tấn, tỉnh giác, & chánh niệm — gạt bỏ tham lam & ưu phiền liên quan đến thế gian. Vị ấy vẫn tập trung vào các cảm giác trong & của chính nó… tâm trong & của chính nó… các phẩm chất tinh thần trong & của chính nó — hăng hái, cảnh giác, & chánh niệm — gạt bỏ tham lam & ưu phiền liên quan đến thế gian sang một bên. Đây gọi là chánh niệm.”
Cuối cùng, những lời của Đức Phật về chánh định (DN 22):
“Và thế nào là chánh định (sammā samādhi)? Có trường hợp một vị tỳ khưu — hoàn toàn xa lìa nhục dục, xa lìa các phẩm tính (tinh thần) bất thiện — nhập & an trú trong thiền thứ nhất: hỷ & lạc sinh ra từ sự xa lánh, kèm theo tư duy định hướng & đánh giá. Với sự tĩnh lặng của những suy nghĩ và đánh giá có định hướng, vị ấy nhập & an trú trong thiền thứ hai: hỷ & lạc do điềm tĩnh sinh ra, sự hợp nhất của nhận thức thoát khỏi suy nghĩ và đánh giá có định hướng — sự đảm bảo bên trong. Khi hỷ tan biến, vị ấy giữ được xả, chánh niệm, tỉnh giác và cảm nhận được lạc thú với thân. Vị ấy nhập và an trú trong thiền thứ ba, trong đó các Bậc Thánh tuyên bố, ‘Xả & chánh niệm, vị ấy có một trạng thái an trú dễ chịu.’ Với sự từ bỏ lạc và khổ – cũng như với sự biến mất trước đó của phấn khởi và ưu phiền – vị ấy nhập & an trú trong tứ thiền: xả và niệm thanh tịnh, không sướng không khổ. Đây gọi là chánh định.”
Ba pháp kết hợp: Giới, Định, Tuệ
Như đã chỉ ra, Bát Chánh Đạo có thể được tóm tắt trong ba phần thực hành giới, định và tuệ.
Như đã chỉ ra, Bát Chánh Đạo có thể được tóm tắt trong ba phần thực hành giới, định và tuệ.
“Như vậy và như vậy là đức hạnh; như vậy và như vậy là tập trung; và như vậy và như vậy là trí tuệ. Đại quả trở thành, lớn là sự đạt được định khi nó được phát triển trọn vẹn nhờ giới hạnh; quả vĩ đại, trí tuệ đạt được vĩ đại khi nó được phát triển đầy đủ nhờ định; hoàn toàn giải thoát khỏi những ô nhiễm của tham, hữu, và vô minh là tâm được phát triển đầy đủ trong trí tuệ.”
Những từ “như vậy và như vậy” trong bài kinh này đề cập đến tất cả những gì mà Đức Phật đã dạy trước đây trong cuộc đời của Ngài về giới, định và tuệ tương ứng.
Tuy nhiên, phần thứ hai quan trọng đến mức nó đã được viết ra, cụ thể là lợi ích to lớn của việc phát triển cả ba lĩnh vực và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng.
Như vậy con đường giới, định và tuệ dẫn đến sự giải thoát khỏi mọi bất toại nguyện của cuộc sống.
Đến đây kết thúc bài viết của chúng ta về Đức Phật và Giáo pháp của Ngài. Cầu mong tất cả chúng sinh được hạnh phúc và từng bước hướng tới sự giải thoát!
Dịch từ buddho.org
ỦNG HỘ KINHDIENPHATGIAO.ORG
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp: TẠI ĐÂY!
- Số tài khoản/ Account number: 161613189
- Tên ngân hàng/ Bank name: ACB (Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu/ Asia Commercial Joint Stock Bank)
- Swift Code: ASCBVNVX
Nội dung chuyển khoản/Transfer content: Họ tên + công đức Chung tay lan toả Phật pháp
Cùng kinhdienphatgiao.org lan toả Đạo Pháp.
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!

The Four Noble Truths: Essence of the Dhamma
What we call ‘Buddhism‘ today was known in ancient times as the ‘Dhamma-Vinaya‘. The word ‘Dhamma’ (in Sanskrit Dharma) has many meanings.
It encompasses the ultimate phenomena of which the universe is composed, but it also means truth or reality and is synonymous with the teaching of the Buddha (the Awakened One).
Vinaya is the ethical code of the Buddha, the rules for monks and the moral advice to lay people.
The fact that the term Vinaya is placed next to Dhamma in the description of the teachings of the Buddha shows how important morality is on the path to liberation.
In essence, the Buddha taught that life is characterized by dukkha, which means unsatisfactoriness, suffering or stress.
Fortunately, he also taught that liberation from dukkha is possible for anyone who is willing to make the necessary effort.
The path to this liberation is what is meant by “Buddhism,” and those who walk on that path could call themselves “Buddhists.”
The term “Buddhism” is a bit misleading however. In fact, due to historical and cultural differences diverse Buddhist schools have emerged over the centuries which, while sharing a common core, may differ to a lesser or greater extent in their ethical, philosophical and practical dimensions.
But there is a common core that all Buddhist schools share.
The Four Noble Truths and Dependent Origination
This common core of all Buddhist schools is formed by the four Noble Truths (cattāri ariyasaccāni) and dependent origination (paṭiccasamuppāda).
The four Noble Truths are:
- The truth of the unsatisfactoriness (dukkha sacca)
- The truth of the cause of the unsatisfactoriness (dukkha-samudāya sacca)
- The truth of the cessation the unsatisfactoriness (dukkha-nirodha sacca)
- The truth of the way leading to the cessation of unsatisfactoriness (dukkha-nirodha-gamini-paṭipadā sacca)
Dependent origination is often summarized by the Buddha as (e.g. Ud 1:3):
“When this is, that is. From the arising of this comes the arising of that. When this isn’t, that isn’t. From the cessation of this comes the cessation of that.”
Because these two aspects of the doctrine are deeply intertwined, we will place dependent origination within the framework of the second Noble Truth, the cause of unsatisfactoriness.
Because of the interrelationship however, it is inevitable that terms such as ‘conditions’, ‘conditionality’, ‘arising and passing away’, etc. will occur earlier. In that case it is always a reference to the principle of dependent origination.
We will now continue with an in-depth look at the four Noble Truths.
The five aggregates are impermanent. What is impermanent is suffering. What is suffering is nonself. What is nonself should be seen as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ When one sees this thus as it really is with correct wisdom, the mind becomes dispassionate and is liberated from the taints by nonclinging.
BUDDHA, SN 22:45
The First Noble Truth: Unsatisfactoriness
In his first teaching the Buddha says (SN 56:11):
“Now this, bhikkhus, is the noble truth of suffering: birth is suffering, aging is suffering, illness is suffering, death is suffering; union with what is displeasing is suffering; separation from what is pleasing is suffering; not to get what one wants is suffering; in brief, the five aggregates subject to clinging are suffering.”
The Five Aggregates
Above the statment is made ‘in brief, the five aggregates subject to clinging are suffering’.
The five aggregates (khandha’s) are matter (rūpa), feeling (vedanā), perception (saññā), mental formations (saṅkhāra’s) and consciousness (viññāṇa).
At the time of the Buddha everything in the world was divided into these five groups. Another possible but perhaps slightly more cumbersome translation of khandha’s is the five ‘groups of existence’.
Matter includes the different kinds of elements. Feeling includes pleasant, unpleasant and neutral feeling. Perception includes the marking or labeling of an object. Mental formations include the intentions (cetanā) aimed at forms, sounds, smells, tastes, touch and mental objects. Consciousness includes eye-consciousness, ear-consciousness, nose-consciousness, tongue-consciousness, body-consciousness and mind-consciousness.
The Buddha almost always mentions the aggregates (khandha’s) as “aggregates subject to clinging” (upādānakkhandha).
The words of the Buddha are therefore far-reaching, for he says nothing less than that, as long as you cling to something in the world or yourself, there will be suffering.
Dukkha
To further clarify this we will take a closer look at the word dukkha.
dukkha is often translated as suffering. In everyday life, dukkha is most easily perceived as suffering, and that is why that translation appeals more to the imagination. Dukkha has a much broader meaning however, which threatens to be lost with ‘suffering’.
Actually dukkha could best be translated as ‘the fricion of the wheel on the wagon-axis’. We experience a similar friction during our life’s journey.
Things don’t go as desired, whether the wheel is stationary or rolling. Even if the wheel is temporarily released from friction as a result of an accidental movement on the road, the wheel will simply continue to cause friction one revolution later.
dukkha has three different forms which are inherently related to one another.
First there is dhukkha-dukkhata which means as much as suffering that is directly experienced.
This can be mental as well as physical. Physical pain, for example, means something as simple as bumping your toe or maybe on a deeper level the continuous discomfort of your body which makes you move all the time. Mental pain is, for example, grief or despair, perhaps caused by the loss of a loved one.
The second variation is viparimana dukkha or suffering as a result of change.
This is a bit more complicated than the first variation. It is not, as is often thought, the suffering that arises after something has changed. As said before, this is part of the first variation, e.g. suffering through loss.
This form of suffering is the suffering that is irrevocably present in a pleasurable experience itself, at the time of that pleasurable experience. The reason is that, because everything that arises will eventually pass away again, any form of happiness or pleasure will perish. It is this potential suffering arising from the conditioned nature of existence that is meant by this form of suffering.
The last form is saṅkhāra dukkha.
This refers to the suffering inherent in all conditioned states. Saṅkhāra is a difficult term to translate. It refers to formations in the sense that everything stems from conditions.
This form of dukkha is the inherent continuous underlying unsatisfaction witihn existence at the deepest level.
As long as there are conditions, existence continues, and so does the enldess wandering in samsāra.
Only Nibbāna is free from conditions, and only the one who has seen Nibbāna from one’s own personal experience can see through saṅkhāra dukkha completely. For us ordinary mortals this remains a concept up to that point.
The different forms of dukkha are therefore nothing but increasingly subtle levels on which dukkha can be seen.
First the immediately perceptible, then the realization that this also applies to pleasant moments, then that this is completely interwoven into existence as a totallity.
You may wonder why it is good to develop an increasing awareness of dukkha. Won’t that just increase your suffering? Isn’t it better to just ignore it, act as if nothing is wrong?
Ostrichism is always an option, of course, but that doesn’t change reality.
Those who are increasingly aware of the reality of dukkha can derive tremendous energy and motivation from this to make the effort necessary to put an end to it, because ending suffering is possible!
Just keep putting forth patient effort. Then sooner or later you will be able to step out of the endless circle of samsāra and attain the indescribable peace of Nibbāna.
Samsāra
Before we began our story of the life of the Buddha, we briefly touched upon samsāra. In a good overview of dukkha, a little more explanation about this term, which is usually misused in the West, is not to be missed. Samsāra can be translated as ‘the endless wandering’. First, a few words from the Buddha himself (SN 15:3 and 15:13):
“What do you think, monks: Which is greater, the tears you have shed while transmigrating & wandering this long, long time—crying & weeping from being joined with what is displeasing, being separated from what is pleasing—or the water in the four great oceans?
“This is the greater: the tears you have shed while transmigrating & wandering this long, long time—crying & weeping from being joined with what is displeasing, being separated from what is pleasing—not the water in the four great oceans.”
“What do you think, monks? Which is greater, the blood you have shed from having your heads cut off while transmigrating & wandering this long, long time, or the water in the four great oceans?”
“This is the greater: the blood you have shed from having your heads cut off while transmigrating & wandering this long, long time, not the water in the four great oceans.”
“Why is that? From an inconceivable beginning comes transmigration. A beginning point is not evident, though beings hindered by ignorance and fettered by craving are transmigrating & wandering on. Long have you thus experienced stress, experienced pain, experienced loss, swelling the cemeteries — enough to become disenchanted with all fabrications, enough to become dispassionate, enough to be released.”
Samsāra is the overarching problem. It denotes the endless aspect of dukkha.
There is no beginning, no matter how far back you look, and even death, the Buddha teaches, is not an end.
There is no heavenly existence, no matter how beautiful, that offers a permanent solution.
Sooner or later things change.
Ahba teaches that it is important to recognize that we are trapped in this continuous cycle of life and death, constantly subject to suffering, as a result of desire.
At first, this may be just a postulate to reflect on from time to time, but through sustained contemplation combined with experience and insight from concentration meditation, this cycle can become a source of energy and determination, culminating in the thought (AN 2:5):
“Gladly would we let the flesh & blood in our bodies dry up, leaving just the skin, tendons, & bones, but if we have not attained what can be reached through human firmness, human persistence, human striving, there will be no relaxing our persistence.”
Dukkha is inherent in all existence. Only the end of the conditioned, of becoming, i.e. Nibbāna, is permanent.
Three Characteristics of Existence
The Buddha taught three characteristics (ti-lakkhaṇa) that apply to all existence in Samsāra, namely impermanence (anicca), unsatisfactoriness (dukkha) and non-self or selflessness (anatta).
Nibbāna, on the other hand, is permanent and free from unsatisfactoriness, but even Nibbāna has no self, is selfless.
Thus, the attainment of Nibbāna is not the joining with a greater whole or merging a universal power or principle, with Brahma, the divine or something similar. For all these examples are based on a concept of ‘I’ or the merging of the ‘I’ with ‘something’.
The three characteristics are of great importance because direct experiential insight into one of these characteristics opens the gate to Nibbāna.
By understanding that everything is impermanent, unsatisfactory and without an identifiable self, the mind can be released and become completely free from desire, hatred and ignorance.
Impermanence (anicca) is often summed up in the Pali Canon with the expression ‘all that has arisen will pass away’.
So important is the rise and fall of things that the Buddha devoted his very last words to this (DN 16):
“Perishable, subject to change, are all formations. Aim relentlessly [for liberation]!”
And even after the death of the Buddha, Sakkha, king of the gods, emphasizes its importance with the words (DN 16):
“Conditions are impermanent, their nature is to rise and fall; having arisen, they cease; their stilling is true bliss.”
At first glance this seems a simple and in everyday life very recognizable statement in the sense of ‘everything comes to an end’, but the words of the Buddha have a more far-reaching meaning than that.
The rising and passing away happens from moment to moment, with such an enormous speed that to everyday perception these moment seem to be a continuous stream.
It can be compared to a movie in which the fast playback of separate images creates the illusion that there is actually movement.
It is the same for mental processes and matter. If concentration is high enough, insight and wisdom can be developed by looking at this instantaneous rise and fall.
With high concentration, you can see that the total of mental processes and matter (nāma-rūpa) is distorted.
It is not the simple observation that a thought comes and goes or the body changes from day to day, for that is a very gross observation.
It is about experiencing at the most subtle level that both the matter of the body and its environment and the mental continuum consist of separate moments that are in continuous flux.
And if impermanence is seen, the other two characteristics follow naturally.
If we cling to that which is impermanent with the misconception that it is permanent, dukkha arises, the second characteristic of existence that we have looked at before.
After the explanation of impermanence and the earlier explanation of dukkha, we will now dwell on non-self (anattā), one of the most crucial terms in Dhamma.
In our daily lives we constantly look at and experience ourselves and the world from an ‘I’ perspective. ‘I’ look into the world, ‘I’ want this, ‘I’ don’t want this, this is ‘mine’, etc.
And irrevocably the differentiation and comparison between ‘me’ and ‘the other’ follows. This discernment lies at the root of all the conflicts in the world.
The Buddha repeatedly indicates that the ‘I’ view is a wrong one, not in accordance with reality.
This wrong view is an illusion maintained by desire, hatred and ignorance, and can be seen through concentration and insight. This is what the Buddha taught (SN 22:95):
“Suppose a man of good sight would see the foam on the river Ganges as he rides past, and he would look at it and examine it thoroughly; then, having thoroughly examined it, he would see the foam as empty, volatile, and without substance. In exactly the same way, the monk looks at all material phenomena, feelings, perceptions, mental formations and states of consciousness – whether in the past, the present or the future, far away or near. And when he sees them, and examines them thoroughly, he sees them as empty, vacant, without a self.”
In the standard formula, the Buddha makes the connection with the other two characteristics.
If things are impermanent, then clinging causes suffering. If there were a self, then that self would be able to decide just to be happy and content, but we know from expirience that this is not possible.
We do not have full control over our happiness (or other aspects of consciousness for that matter), any more than we do over the change of our bodies. How, then, can you speak of a self?
We can’t, says the Buddha. Of course, this is just a cognitive theorem to get a first hairline crack in the image of the self through reasoning.
Another cognitive example is thinking about the reality of the concepts we tend use.
Take a house for example. What is a house? If we remove the roof, the doors and windows, is it still a house? Is the house the walls, the foundation, the land it stands on? Soon you will come to the conclusion that a house is nothing more than an agreement.
It is very important, of course, to be able to talk to each other, but it has no real existence, no intrinsic value.
The problem is that we still value these agreements, these concepts. We cling to them as if they do have value.
However, just as with impermanence and suffering, so non-self can ultimately be expirienced by seeing the rise and fall of nāma-rūpa.
Whoever sees this can only conclude that there is no permanent entity, that there are only separate moments that are conditioned and conditioning among themselves.
This conclusion is consistent with everyday life, for although at some point we cannot choose to feel a certain way, we can work on the conditions for a certain mental attribute to emerge more often and more solidly.
If we don’t make an effort, these will be unwholesome traits, nourished by desire, hatred and ignorance. If we do make an effort, we can slowly but surely, very patiently replace these with their positive counterparts and thus purify our mind and make it receptive to liberating insight.
It might be good to put some extra nuance to this in order to prevent people from thinking that such an insight comes abruptly.
After all, unnoticed, we have often created an opinion about the self.
That is, we think ‘I am this’ and can reason this out for ourselves. With the first hairline cracks that arise from meditation and contemplating non-self it is possible that this view diminishes in strength and stops at some point.
The next step is when we notice that we still have the ‘I am’ thought. We may no longer have a comprehensive view about it, but still experience our ‘personal’ existence as a real entity.
By continuing to develop concentration and insight, this too can be transcended at some point.
But even then we are not finished.
Even for those who have made the superhuman effort to transcend the ‘I am’ level, the perception ‘I’ remains. By this we mean that as soon as we open our eyes and look into the world we do this from an ‘I’.
Only at the very last step towards liberation can this ‘I’ be given up.
So do not think too easily about giving up the self, for it is not easy. And do not rejoice too much (maybe only a little) when you have taken a first small step, for the road is long and it takes a lot of patience and effort to really get to the deepest level through one’s own experience of the rising and passing away of phenomena, the suffering that arises by clinging to them, and the non-self that is inherent in them, and thus put an end to the unsatisfactoriness of existence.
Desire is the root of suffering.
BOEDDHA, MN 105
The Second Noble Truth: The Cause
We continue with a passage from the first teaching of the Buddha, this time about the second Noble Truth, the cause of unsatisfaction (SN 56:11):
“Now this, bhikkhus, is the noble truth of the origin of suffering: it is this craving which leads to renewed existence, accompanied by delight and lust, seeking delight here and there; that is, craving for sensual pleasures, craving for existence, craving for extermination.”
The Buddha also taught (DN 22):
“And where does this desire come from and take root? Wherever in the world there are pleasurable and enjoyable things, this desire arises and takes root. Eye, ear, nose, tongue, body and consciousness are pleasurable and enjoyable, that is where this desire comes from and takes root.”
“Visual objects, sounds, smells, taste, touch and mental objects are pleasurable and enjoyable, that’s where this desire comes from and takes root.”
“Consciousness, sensory impressions, feelings arising from the sensory impressions, perception, intention, craving, thinking and reflecting are pleasurable and enjoyable, that’s where this desire comes in and takes root.”
“This is the second noble truth.”
Desire in all its forms, nourished by ignorance about the true nature of things, is the great cause of all the suffering in the world.
Although we tend to think that desire always has something to do with wanting something, it is important to realize that desire also manifests itself in the form of not wanting something.
The most basic form of desire is sensory desire (kāma-taṇhā).
This is not just sensual or erotic desire, but all the forms of wanting or not wanting that arise from the contact our senses make with objects. Whether it is something beautiful or unpleasant we see, hear, smell, taste, feel or think about.
The latter deserves extra attention because Buddhism defines the mind and mental objects as the sixth sense in addition to the five senses we know in the west. Therefore, this desire also includes the desire arising from ideas, opinions, concepts and the like.
The longing for eternal existence (bhava-taṇhā), is more subtle than the above.
It is, in a superficial sense, the longing for an afterlife, rebirth or, for example, becoming one with Brahma.
In a deeper sense it is all the longing for ‘being’, right down to the most subtle level.
This last longing is only destroyed during the last step towards liberation, that is how persistent it is. It is an expression of an eternalistic view, the belief in an eternal and permanent self.
The last form of longing is the longing for self-destruction or not becoming, not being anymore (vibhava-taṇhā).
It stems from an annihilistic view, the belief that after death there is nothing left. This includes materialism as a view.
This longing can, for example, be a reason for suicide with the underlying idea that this is the way to put an end to suffering, now and in the future.
This form of desire should absolutely not be confused with the desire to put an end to rebirth in samsāra.
Indeed, the latter can only take place through the destruction of desire itself by seeing the true nature of things.
As long as there is desire, in whatever form, existence will continue, from moment to moment, from life to life.
Underlying this cyclic energy is the doctrine of dependent creation.
Dependent Origination – the Chain of Causal Relations
If we look at the cause of unsatisfactoriness, the second Noble Truth, we see that the Buddha mentions desire as the big problem.
Desire stems from ignorance. But how can this desire cause all the suffering and rebirth?
The answer is the teaching of dependent origination (paṭiccasamuppāda).
Together with the Four Noble Truths it forms the foundation of the Dhamma. Together they form the liberating insight the Buddha attained during the night of his enlightenment.
The Buddha emphasized this with the words (MN 28):
“He who sees the Dhamma, sees dependend origination. He who sees dependend origination sees the Dhamma.”
We will start with a detour, namely by taking our everyday expirience as a starting point.
Both mind and matter become distorted during our perception.
In our daily experience, for example, seeing something, knowing what it is, forming an opinion about it, wanting or not wanting it all seem to happen at the same time. In fact, this seems to happen simultaneously with hearing, smelling, tasting, touch and thinking.
When looking at matter, a rock for example, you see a permanent form that perhaps only slowly changes through wind and weather.
But this is a distorted perception of mental processes and matter as a result of ignorance, the result of not (yet) being able to look sharp enough.
It is comparable to a movie. If you have ever been to the cinema, you know that you can get completely absorbed in the story, the beautiful images and the moving music.
In reality, however, the movie consists of seperate images that appear to our eye at a speed of at least 24 frames a second. That’s enough for the image to appear fluid. The sound is nothing more than loose tones that only form a whole when put together. And the story isn’t real but thought up, and we’re not really in the middle of it, although that’s what it feels like.
If you look at mental processes and matter with a high level of concentration, you can see that they consist of distinct moments that arise and perish.
These mental moments follow each other with an increadible speed, creating the illusion that perception is a continuous process.
These separate moments each have an object and it always concerns one of the six senses. The senses do not work all at the same time, you see or hear or taste or smell or feel or think, one after the other, never at the same time.
And matter is not as permanent as it appears but is in a continuous flux of rising and perishing as well.
With high concentration it can therefore be concluded from your own experience that our normal day consciousness completely distorts reality.
The process that appears to be continuous actually consists of separate fragments that arise and perish in every respect.
This can be called the ‘analysis’ of reality, the division of reality, of mental processes and matter, into the smallest possible building blocks.
What dependent orignation shows us is that these moments, although separate from each other, are nevertheless interconnected.
Dependent origination can therefore be seen as the ‘synthesis’, describing the mutual relationships of the separate building blocks.
This is an important point with which the Buddha distances himself from nihilism. It means that intentions and subsequent actions do have consequences.
If there would be seperate moments without interconnection, then any behavior could be justified.
This is the most important thing about dependent origination, the hope it gives. For it is the condtional relationship between moments that you can slowly but surely work with, with intention as the driving force of free will.
Before we go any further, let’s take a closer look at what the Buddha himself taught about dependent arising (SN 12:1):
“And what, bhikkhus, is dependent origination? With ignorance (avijjā) as condition, volitional formations (saṅkhāra’s) come to be; with volitional formations as condition, consciousness (viññāṇa); with consciousness as condition, mentality-materiality (nāma-rūpa); with name-and-form as condition, the six sense bases (salāyatana); with the six sense bases as condition, contact (phassa); with contact as condition, feeling (vedanā); with feeling as condition, craving (taṇhā); with craving as condition, clinging (upādāna); with clinging as condition, existence (bhava); with existence as condition, birth (jāti); with birth as condition, aging-and-death (jaramaranam), sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair come to be. Such is the origin of this whole mass of suffering. This, bhikkhus, is called dependent origination. But with the remainderless fading away and cessation of ignorance comes cessation of volitional formations; with the cessation of volitional formations, cessation of consciousness; with the cessation of consciousness, cessation of name-and-form; with the cessation of name-and-form, cessation of the six sense bases; with the cessation of the six sense bases, cessation of contact; with the cessation of contact, cessation of feeling; with the cessation of feeling, cessation of craving; with the cessation of craving, cessation of clinging; with the cessation of clinging, cessation of existence; with the cessation of existence, cessation of birth; with the cessation of birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair cease. Such is the cessation of this whole mass of suffering.”
Here dependend originition is explained as the chain of causal relations.
It is a chain because it keeps us bound to samsāra. It is a circle from existence to existence driven by ignorance and desire.
To emphasize this, the twelve links of the chain are usually spread over three lives. The past, present and future life.
Ignorance and volitional formations are placed together in the previous life. They form the conditions for the arising of the present life, namely by serving as a condition for the linking of the results of consciousness, mentality-materiality, the six sensory bases, contact and feeling.
As a result of feeling we have craving, clinging and existence in this life, which in turn is a condition for the next life with birth, old age and death.
Although the three lives are often given as examples, this conditioning takes place from moment to moment in this present life as well. In daily life these conditions are not sequentially but intertwined.
To make it simpler just look at the chain in this life.
Because we are now ignorant of the true nature of mental processes and matter, we take the feeling that arises from the contact we make with objects through our senses very seriously.
As a result of this feeling, which can be pleasant, unpleasant or neutral, we want something or we don’t want it. Craving arises.
Driven by craving and clinging we perform good and bad deeds, we have wholesome and unwholsome mental states.
The attentive reader will have immediately seen that ignorance in the chain is followed by volitional-formations. Volitional-formations, which can also be translated as intention, is nothing less than karma (Pali: kamma) which we will consider later.
Through craving and clinging we have new intentions and so we make new karma, and on and on the round goes.
If the previously given formula in the form of “when this is, that is” causes the suspicion that the Buddha teaches a random dependency then consider (SN 12:20):
“And what, bhikkhus, is dependent origination? ‘With birth as condition, aging-and-death comes to be’: whether there is an arising of Tathagatas or no arising of Tathagatas, that element still persists, the stableness of the Dhamma, the fixed course of the Dhamma, specific conditionality. A Tathagata awakens to this and breaks through to it. Having done so, he explains it, teaches it, proclaims it, establishes it, discloses it, analyses it, elucidates it. And he says: ‘See! With birth as condition, bhikkhus, aging-and-death.’”
Note the words ‘specific conditionality’.
With this teaching the Buddha does not describe a general principle but an absolute law. A circular force that binds us.
It cannot be emphasized enough that the chain goes on and on, from moment to moment, day to day, year to year, from this life to the next.
Birth followed by sickness, old age and death, followed by birth, sickness old age and death, again and again and again.
Thus we are trapped in samsāra, we wander around, resulting in ‘sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair, the unsatisfaction of existence’.
Momentary temporary pleasure, though tempting, offers no solution, no safe haven.
The only way to step out of the circle is to see the true nature of things by committing oneself to the way indicated by the Buddha and thus completely destroying the chain.
This is the hopeful message of the Buddha.
Because these are specific conditions, an end is possible. When ignorance is seen as it really is, the light of the Dhamma shines and the chain falls apart.
Liberation is possible.
Karma and Rebirth
The doctrine of karma (in Pali: kamma) and rebirth is often misunderstood.
You sometimes hear people say fatalistically “it’s my karma” or with the desire to give meaning to their suffering “it’s probably good for something”.
When talking about karma like this it seems like an inescapable destiny or a greater power at play, a judge who assigns karma to punish or teach.
The essence of rebirth is often buried under the image of reincarnation, the (according to the Buddha wrong) idea that there is a soul that migrates from one life to the next. Sometimes it is even said that a person has an old soul or one soul is older than another.
In addition, it is striking that Western Buddhist writers regularly reject the teachings of karma and rebirth altogether.
They argue that this teaching is not appropriate in the otherwise so logical and experience-based teaching of the Buddha, nor would it be necessary to think about this at all for progress on the path.
In the light of such images and claims, it is very important to reflect on the teachings of karma and rebirth.
First, let us consider the meaning of the word karma.
Contrary to how the word karma is often used in the West, it does not mean ‘consequence’. The Buddha said (AN 6:63):
“Intention, I tell you, is kamma. Intending, one makes kamma by way of body, speech and mind.”
So Karma is much more of a driving force.
The Pali word for consequence or reaction is vipāka. Kamma-vipāka therefore means as much as action-reaction, but a nicer translation is ‘intention and its fruit’. Fruit because vipāka also has the meaning of ‘ripening’.
We know the expression “you reap what you sow”, this is a description of kamma-vipāka.
Just as the ripening of what is sown depends on water, sun and nutrients among other things, the ripening of karma also depends on several factors.
Karma is not always expressed proportionally in a neat one-to-one relationship with the result. There are different degrees, different strengths of karma that each interact with other karma from the near or distant past and it also depends on current effort.
For example, the fruit of karma can sometimes be stronger due to other supporting karma, weakened by opposing karma, or held back by destructive karma.
Furthermore, just as with the ripening of a fruit, which requires not only the growth of the fruit tree through sun, rain and nutrients, but also the right season for bearing the fruit, karma must have the right conditions for it to ripen.
For example, certain karma might not be able to cause results because the right conditions are not in place, so there is more time for other karma to be generated that might oppose it if it is unwholesome or strengthen if it is wholsome.
This is important because it gives just enough space to make spiritual growth possible.
In a strict one-to-one relationship, the inexhaustible karma from the infinite past would bring about infinite results in the future.
Precisely because this is not the case influence can be exerted by directing intention and liberation is possible.
Karma can be classified into ethical quality, i.e. wholesome karma or unwholesome karma.
Wholesome karma are the intentions that result in the expansion of consciousness, rebirth into higher worlds and ultimately Nibbāna.
Unwholesome karma are the intentions which result in the narrowing of consciousness, rebirth into lower worlds and turning away from Nibbāna.
When we speak of rebirth, two points are important. The first is that there is no “I”, no “person” or “soul” that passes from one existence to another.
Rebirth is the result of conditions.
An example that is often given to clarify this is the flame from a candle that is used to light another candle. The flame of the second candle is not the same, but also not completely different from that of the first candle. The flame of the second candle is there because of, depending on, the first candle.
A more modern example is the billiard ball that has its direction and strength as a result of the ball that touches it, which in turn gives strength and direction to the next ball. The balls are not the same, but their movement cannot be seen as separately from each other.
Likewise, rebirth is not a transmigration of the soul but the continuation of mind-moments based on conditions.
The teachings of kamma-vipāka and rebirth are deeply interwoven with paṭiccasamuppāda, dependend origination which we explained in the previous chapter.
When speeking about depend origination the Buddha said that it is equivalent to the Dhamma itself.
Therefore, the choice of some Western writers to completely ignore karma and rebirth appears to be a very selective personal choice that does not correspond to the words of the Buddha.
Of course, it is not necessary to believe blindly in karma and rebirth, but it is advisable to keep an open and inquiring mind.
Do not immediately reject karma but recognize the limitations of your own undeveloped mind and only dare to draw conclusions slowly, after gaining your own insights from the steady training of the mind through morality, concentration and wisdom.
Ahba repeats it over and over again, not only when speaking about things like karma, but also in other situations where something is beyond our Western frame of mind:
“Now your mind isn’t powerful enough, that’s why you don’t see it. If you develop concentration and your mind becomes more powerful, you’ll see it by itself.”
Simple.
Just as a blue, red, or white lotus flower, though born in the water and grown up in the water, rises above the water and stands unsoiled by the water, even so, though born in the world and grown up in the world, I have overcome the world and dwell unsoiled by the world. Remember me, brahmin, as a Buddha.
BUDDHA, AN 4:36
The Third Noble Truth: Liberation
Let us start again with a passage from the Buddha’s first teaching, this time about the third Noble Truth, the cessation of unsatisfactoriness (SN 56:11):
“Now this, bhikkhus, is the noble truth of the cessation of suffering: it is the remainderless fading away and cessation of that same craving, the giving up and relinquishing of it, freedom from it, nonreliance on it.”
Nibbāna
The liberation from the deepest unsatisfaction by the irrevocable destruction of desire, hatred and ignorance – the liberation from the endless wandering that is samsāra – that is what in Buddhism is called the attainment of Nibbāna.
Nibbāna can be translated as extinction, the extinction of the fire of desire, hatred and ignorance.
When one then considers that in ancient India the extinction of burning wood was also seen as a away of liberating the fire, it is not strange that Nibbāna means both extinction and liberation.
Nibbāna is the ultimate goal of the Dhamma and although, as said, it equals liberation and extinction of something, it is also a reality in itself, as the Buddha said:
“Of all Dhamma’s, whether conditioned or unconditioned, the most excellent Dhamma, the highest Dhamma, is Nibbāna.”
Dhamma in this context means ‘ultimate phenomenon’, an existing reality that can be expirienced as an object by the mind.
The Buddha himself never said what Nibbāna is.
If you had to explain to someone who has never eaten a mango what a mango tastes like, you would soon fall short.
You would make comparisons with what is known to describe the texture, the sweetness, the acidity, and so on. Still, the only way to find out what a mango tastes like is to taste it yourself.
If it is already almost impossible to explain the taste of a mango, a worldly object and to some extent comparable with things around us, to make comparisons then for the supernatural Nibbāna which lies beyond any experience is impossible.
What we do know is that Nibbāna, unlike all other phenomena in the world, is unconditioned (not conditioned and not creating new conditions) and permanent, but like everything else, Nibbāna is without a self (anattā).
It cannot be repeated enough, the attainment of Nibbāna is not the merging of a self with something higher, Nibbāna is anattā, without self.
If we look in the Pali Canon for what the Buddha does say about Nibbāna, we find for example (AN 3:32):
“This is peaceful, this is sublime, that is, the stilling of all activities, the relinquishing of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna.”
The Four Stages of Liberation
Achieving the ultimate complete liberation from unsatisfactoriness (dukkha) is a gradual process consisting of four stages.
In the time of the Buddha there were people who had such good paramis (specific mental qualities) that after hearing a single verse from the Buddha they went through all the stages at once, but today, because of the decline of the mental state of humanity, we don’t have to harbor the illusion that this will happen to us, we wil just have to work really hard.
Before embarking on the path that leads to liberation, one is a anda-puttujana, which means as much as a blind world citizen.
When the blind world citizen listens to Dhamma, gets inspired and sets forth on the path by practicing morality, concentration and wisdom, he slowly but surely becomes a kalyāṇa-puttujana, a noble world citizen, one who walks on the path to liberation.
After prolonged, patient and persistent effort, the path eventually leads to Nibbāna in four stages.
Until one reaches the first stage one is not safe, not sure. That one is safe and certain is the first characteristic of entering the four stages.
At the moment that Nibbāna is first taken as an object by the mind one reaches the first stage, that of stream-enterer (Sotāpanna).
This means that one enters the stream which leads irrevocably within seven lifetimes to complete liberation, and one is certain of a rebirth in the human realm or one of the higher realms. From that point on there wil be no more big suffering, like being reborn in a hell-world or the like.
This stage is characterized by an unshakeable faith in the Buddha, Dhamma and Sangha resulting from one’s own experience, and the persistent inability to violate the moral precepts of the Buddha.
Through further and deeper experience with Nibbāna the next stage follows, that of the once-returner (Sakadāgāmī) who, as the name suggests, has only one future life remaining before complete liberation will be achieved. At this stage, desire and hatred are severely weakened.
Next comes the stage of the non-returner (Anāgāmī) who, after death, will be reborn in a very high realm where he or she resides until Nibbāna is attained. At this stage, desire and hatred are completely and permanently destroyed.
The final stage is that of the Arahant (Arahat), who in this very life has achieved complete liberation by eradicating at the root the very last mental corruptions, especially the extremely stubborn and very subtle view that there is an ‘I’.
After death, the Arahant enters into Parinibbāna, that is to say, ‘Nibbāna without there being another body’.
Questions like where is this? Is this a place? Or in the same context, where is the Buddha? Are erroneous questions arising from the view that there is an ‘I’ going ‘somewhere’ when the very giving up of this is a defining characteristic of complete liberation.
From the above it can be concluded that it is of great importance to strive for the first stage, that of the stream-enterer, in order to reach the safe haven in which there will be no more great future suffering and liberation will follow with certainty.
In the words of Ahba:
“Now you are not sure about your future, but if you keep practicing, keep trying, then you will reach certainty, then there will be no more great suffering.”
Whatever is not yours, abandon it; when you have abandoned it, that will lead to your welfare and happiness for a long time.
BUDDHA, MN 22
The Fourth Noble Truth: The Eightfold Path
The passage from the Buddha’s first teaching about the fourth Noble Truth, the way to liberation from unsatisfaction, reads (SN 56:11):
“Now this, bhikkhus, is the noble truth of the way leading to the cessation of unsatisfactoriness: it is this Noble Eightfold Path; that is, right view (sammā diṭṭhi), right intention (sammā saṅkappa), right speech (sammā vācā), right action (sammā kammanta), right livelihood (sammā ājīva), right effort (sammā vāyāma), right mindfulness (sammā sati) and right concentration (sammā samādhi).”
This Eightfold Path can be summed up with the threefold practice of morality, concentration and wisdom.
Morality includes right speech, right action, and right living. Concentration includes right effort, right mindfulness and right concentration. And wisdom includes right view and right intention.
In order to provide a basis of the meaning of these path factors within the structure of the threefold practice through passages from the sutta’s. Then we will dwell on the threefold practisce as whole.
Wisdom: Right View and Right Intention
Let’s start with right view.
In summary, seeing through personal experience everything we have written about until now is right view, namely insight into the Four Noble Truths (DN 22):
“Now what, monks, is right view (sammā-diṭṭhi)? That, monks, which is knowledge about suffering knowledge about the origination of suffering knowledge about the cessation of suffering knowledge about the practice leading to the cessation of suffering. This, monks, is called right view.”
Of course, this includes dependent origination, karma and its fruit, knowing what is wholesome and what is unwholsome, the three characteristics and so on.
There are different stages of right view, or understanding.
The first stage is understanding by reading and studying of texts, the second stage is understandig by repeated contemplation and reflection of what has been read and studies and the third (most important) stage is the liberating understandig that can only arise through one’s own experience by the practice of morality and concentration.
About right intention, the second path-factor that is part of wisdom, the Buddha says (DN 22):
“Now what, monks, is right intention (sammā-saṅkappa)? Intention on renunciation (nekkhamma-saṅkappa), intention free from ill-willl (abyāpāda-saṅkappa), intention on harmlesness (avihiṃsā-saṅkappa). This is right intention.”
Earlier we already discussed that when the Buddha speaks about intention he speaks about karma and that intentions are thus the driving force of free will. Correct intentions can be said to be those thoughts that focus our mind on what is pure.
Morality: Right Speech, Right Act and Right Livelihood
It is always good to dwell longer on morality than on insight.
We are inclined to desire insight and to focus al our attention on it, forgetting that morality is an indispensable foundation that has much depth in everyday practice.
To start with correct speech in the words of the Buddha (DN 22):
“And what is right speech? Abstaining from lying, from divisive speech, from abusive speech and from idle chatter: This is called right speech (sammā vācā)?”
And further (AN 10:176):
“And how is one made impure in four ways by verbal action? There is the case where a certain person engages in false speech. When he has been called to a town meeting, a group meeting, a gathering of his relatives, his guild, or of the royalty [i.e., a royal court proceeding], if he is asked as a witness, ‘Come & tell, good man, what you know’: If he doesn’t know, he says, ‘I know.’ If he does know, he says, ‘I don’t know.’ If he hasn’t seen, he says, ‘I have seen.’ If he has seen, he says, ‘I haven’t seen.’ Thus he consciously tells lies for his own sake, for the sake of another, or for the sake of a certain reward. He engages in divisive speech. What he has heard here he tells there to break those people apart from these people here. What he has heard there he tells here to break these people apart from those people there. Thus breaking apart those who are united and stirring up strife between those who have broken apart, he loves factionalism, delights in factionalism, enjoys factionalism, speaks things that create factionalism. He engages in abusive speech. He speaks words that are harsh, cutting, bitter to others, abusive of others, provoking anger and destroying concentration. He engages in idle chatter. He speaks out of season, speaks what isn’t factual, what isn’t in accordance with the goal, the Dhamma, & the Vinaya, words that are not worth treasuring. This is how one is made impure in four ways by verbal action.”
And also this short passage from the instruction to Rahula deserves attention (MN 61):
I have heard that on one occasion the Blessed One was staying near Rajagaha, at the Bamboo Grove, the Squirrels’ Feeding Ground.
At that time Ven. Rahula was staying at the Mango Stone. Then the Blessed One, arising from his seclusion in the late afternoon, went to where Ven. Rahula was staying at the Mango Stone. Ven. Rahula saw him coming from afar and, on seeing him, set out a seat & water for washing the feet. The Blessed One sat down on the seat set out and, having sat down, washed his feet. Ven. Rahula, bowing down to the Blessed One, sat to one side.
Then the Blessed One, having left a little bit of water in the water dipper, said to Ven. Rahula, “Rahula, do you see this little bit of left-over water remaining in the water dipper?”
“Yes, sir.”
“That’s how little spiritual progress there is in anyone who feels no shame at telling a deliberate lie.” Having tossed away the little bit of left-over water, the Blessed One said to Ven. Rahula, “Rahula, do you see how this little bit of left-over water is tossed away?”
“Yes, sir.”
“Rahula, whatever spiritual progress there is in anyone who feels no shame at telling a deliberate lie is tossed away just like that.”Having turned the water dipper upside down, the Blessed One said to Ven. Rahula, “Rahula, do you see how this water dipper is turned upside down?”
“Yes, sir.”
“Rahula, whatever spiritual progress there is in anyone who feels no shame at telling a deliberate lie is turned upside down just like that.” Having turned the water dipper right-side up, the Blessed One said to Ven. Rahula, “Rahula, do you see how empty & hollow this water dipper is?”
“Yes, sir.”
“Rahula, whatever there is of a contemplative in anyone who feels no shame at telling a deliberate lie is empty & hollow just like that.”
The following is about right action (DN 22):
“And what is right action? Abstaining from taking life, from stealing, & from illicit sex. This is called right action.”
And further (AN 10:176):
“And how is one made impure in three ways by bodily action (sammā sammatta)? There is the case where a certain person takes life, is a hunter, bloody-handed, devoted to killing & slaying, showing no mercy to living beings. He takes what is not given. He takes, in the manner of a thief, things in a village or a wilderness that belong to others and have not been given by them. He engages in sensual misconduct. He gets sexually involved with those who are protected by their mothers, their fathers, their brothers, their sisters, their relatives, or their Dhamma; those with husbands, those who entail punishments, or even those crowned with flowers by another man. This is how one is made impure in three ways by bodily action..”
Last but not least, right livelihood (DN 22):
“And what is right livelihood? There is the case where a disciple of the noble ones, having abandoned dishonest livelihood, keeps his life going with right livelihood: This is called right livelihood.”
Because this piece of text remains rather cryptic, another passage for a more practical handhold (AN 5:177):
“Five professions should be avoided by the disciple: dealing in weapons, in living beings, in flesh, in intoxicants and in poison”
Concentration: Right Effort, Right Mindfulness and Right Concentration
The Buddha said about right effort (DN 22):
“And what is right effort (sammā vāyāma)? There is the case where a monk generates desire, endeavors, arouses persistence, upholds & exerts his intent for the sake of the non-arising of evil, unskillful qualities that have not yet arisen… for the sake of the abandoning of evil, unskillful qualities that have arisen… for the sake of the arising of skillful qualities that have not yet arisen… (and) for the maintenance, non-confusion, increase, plenitude, development, & culmination of skillful qualities that have arisen: This is called right effort.”
The words of the Buddha about right mindfulness are (DN 22):
“And what is right mindfulness (sammā sati)? There is the case where a monk remains focused on the body in & of itself — ardent, alert, & mindful — putting aside greed & distress with reference to the world. He remains focused on feelings in & of themselves… the mind in & of itself… mental qualities in & of themselves — ardent, alert, & mindful — putting aside greed & distress with reference to the world. This is called right mindfulness.”
Finally the words of the Buddha about correct concentration (DN 22):
“And what is right concentration (sammā samādhi)? There is the case where a monk — quite withdrawn from sensuality, withdrawn from unskillful (mental) qualities — enters & remains in the first jhana: rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation. With the stilling of directed thoughts & evaluations, he enters & remains in the second jhana: rapture & pleasure born of composure, unification of awareness free from directed thought & evaluation — internal assurance. With the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters & remains in the third jhana, of which the Noble Ones declare, ‘Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding.’ With the abandoning of pleasure & pain — as with the earlier disappearance of elation & distress — he enters & remains in the fourth jhana: purity of equanimity & mindfulness, neither pleasure nor pain. This is called right concentration.”
The Threefold Practice Combined: Morality, Concentration and Wisdom
As indicated, the Eightfold Path can be summarized in the threefold practice of morality, concentration and wisdom.
This summary is taught regularly by the Buddha, take for example this passage from the last days of the Buddha, the maha-Parinibbāna sutta (DN 16):.
“Such and such is virtue; such and such is concentration; and such and such is wisdom. Great becomes the fruit, great is the gain of concentration when it is fully developed by virtuous conduct; great becomes the fruit, great is the gain of wisdom when it is fully developed by concentration; utterly freed from the taints of lust, becoming, and ignorance is the mind that is fully developed in wisdom.”
The words “such and such is” in this sutta refer to everything that the Buddha has taught earlier in his life regarding morality, concentration and wisdom respectively.
However, the second part is so important that it has been written out, namely the great good of developing all three domains, and their interdependence.
Thus the path of morality, concentration and wisdom leads to liberation from all the unsatisfactoriness of existence.
Here ends our text about the Buddha and his Dhamma. May all beings be happy and take steps towards liberation!

