Mặc dù ký ức tập thể của cộng đồng tu viện nói chung dường như đã đối phó với nhiệm vụ giữ lại và hoàn thiện thông điệp của Đức Phật, nhưng nó vẫn dễ bị tổn thương trong những tình huống mà cộng đồng bị đe dọa. Chính vì lý do này vào thế kỷ 1 trước Công nguyên, khi chiến tranh và nạn đói làm dấy lên nỗi sợ tuyệt chủng giữa các Phật tử trên đảo Sri Lanka, mà kinh thánh lần đầu tiên được hệ thống hóa. Vì chữ viết hiện đã có sẵn, tất cả những gì đã được kế thừa đã được ghi lại và gán theo ba loại cho một trong ‘ba giỏ’ văn bản, ‘Tipiṭaka’. Ngôn ngữ được sử dụng là Pāli, ngôn ngữ mà di sản đã được ghi nhớ ở đó. Kinh điển tự nhiên được chia thành ba: ‘Kinh điển Piṭaka’, các bài giảng và lời của Đức Phật, ‘Vinaya Piṭaka’, các quy định tu viện và ‘Abhidhamma Piṭaka’, các tác phẩm phân tích kinh viện.
Một bài bình luận của Abhidhamma
Bình luận về Abhidhamma Piṭaka trong một cuốn sách gấp bằng tiếng Shan. Mueang Lakorn, Thái Lan, 1917 CN.
Cuốn sách gấp giấy với bìa được trang trí xa hoa có chứa Saṅkhāra bhājanī, một bài bình luận về Abhidhamma, còn được gọi là ‘bình luận về cuộc sống và tâm hồn’.
Văn bản nói về cái gì?
Saṅkhāra bhājanī là một bài bình luận về ‘giáo lý cao hơn’ được gọi là Abhidharma Pitaka. Văn bản này được viết bằng tiếng Shan, ngôn ngữ được nói bởi người Shan sống chủ yếu ở Myanmar (Miến Điện), miền nam Trung Quốc và Thái Lan. Trong mười ba chương, nó giải thích vai trò của nhận thức và cách vô minh và ảo tưởng dẫn đến ham muốn, và do đó tái sinh và đau khổ. Văn bản nhấn mạnh rằng vạn pháp đều phải tuân theo vô thường: sinh, tăng, suy giảm, suy đồi, chết, tái sinh, v.v… Tâm trí, citta, coi vô thường là đau khổ. Luân hồi (chu kỳ chuyển giới) hay luân hồi dukkha ( tệ nạn của chuyển giới) được coi là một chu kỳ đau khổ liên tục. Giáo lý của Đức Phật quy định cách thoát khỏi luân hồi, bao gồm thực hành bố thí (dana / pariccaga), giữ giới luật Phật giáo (sila) và thiền định (bhavana).
Chúng ta biết gì về bản thảo này?
Bản thảo được ủy quyền như một hành động xứng đáng của Phrah-takah Sarngjah và vợ Phrah-takah Nang Lah. Tên của người ghi chép là Raharn Hsipaw và nó được hoàn thành vào năm 2460 BE (1917) tại Mueang Lakorn, làng Pah Kham ở miền Bắc Thái Lan. Nó có 278 folios và hai tấm bìa mạ vàng và trang trí xa hoa để tăng thêm giá trị. Bản thảo được mua lại từ Bộ sưu tập nghệ thuật Đông Nam Á của Doris Duke.
Duyệt qua toàn bộ bản thảo trên trang web Bản thảo số hóa.

Do đó, kinh điển Pāli tập trung vào Đức Phật lịch sử và cuộc đời của ngài. Danh mục ‘Sutta’ được chia thành năm nhóm được gọi là Nikāyas, được phân loại theo các đặc điểm chính thức như chiều dài. Các nhóm Phật giáo khác trên tiểu lục địa Ấn Độ cũng sử dụng sơ đồ ba bên này, phải rất cổ xưa, mặc dù chi tiết về thời điểm họ đưa di sản của họ vào văn bản và ở dạng ngôn ngữ nào không rõ ràng. Ngoài các kinh điển kinh điển bằng ngôn ngữ Pāli, nhiều bài bình luận và bình luận phụ đã được viết bởi các học giả Pāli trong 2000 năm qua. Ví dụ, các tác phẩm của học giả thế kỷ thứ 5 Buddhaghoṣa rất cần thiết cho sự hiểu biết về kinh điển Phật giáo Theravāda.