Bài giảng thứ hai của Đức Phật – Kinh Chuyển Pháp Luân – Chuyển Bánh Xe Chân Lý

Kinh Chuyển Pháp Luân – Chuyển Bánh Xe Chân Lý

Vào ngày thứ năm sau khi Ngài đến Vườn Nai ở Isipitana gần Benares, nơi Ngài thuyết pháp lần đầu tiên cho năm du sĩ và khiến họ chuyển hướng theo con đường của Ngài, Đức Phật đã thuyết cho họ bài pháp thứ hai về Vô ngã.

Nó được biết đến trong văn học Phật giáo với tên gọi “Bài giảng về sự không tồn tại của linh hồn”. Bài giảng được trình bày dưới đây đầy đủ chi tiết, vì lợi ích của độc giả.

 

 

“Này các Tỷ-kheo, thân không thể được coi là linh hồn vì nó dễ bị hủy hoại, thọ, tưởng, khuynh hướng, và thức cũng không thể được coi là linh hồn, bởi vì ngay cả thức cũng bị hủy hoại. Sắc chẳng phải là tạm thời sao? Nó có thường còn không? ? Xúc, tưởng, khuynh hướng và thức chẳng phải là tạm thời sao? Chúng có thường hằng không? Và cái gì tạm bợ, nó xấu hay tốt? Và cái gì tạm bợ, xấu xa, và có khả năng thay đổi, liệu nó có bao giờ được coi là ‘ đây là của tôi’ hay như “đây là tôi” hay như “đây là linh hồn vĩnh cửu của tôi”?

“Này các Tỷ-kheo, tất cả sắc pháp dù quá khứ, hiện tại hay vị lai, dù chủ quan hay khách quan, xa hay gần, cao hay thấp, cần phải được quán đúng như “cái này không phải là tôi”, “cái này không phải của tôi” và “cái này không phải là linh hồn vĩnh cửu của tôi.” Tương tự như vậy, mọi cảm giác, nhận thức, khuynh hướng và ý thức phải được coi là “những thứ này không phải của tôi”, “những thứ này không phải là tôi” và “những thứ này không phải là linh hồn vĩnh cửu của tôi.”

“Biết như vậy, này các Tỷ-kheo, một đệ tử chân chính sẽ phát khởi sự chán ghét đối với sắc, thọ, tưởng, khuynh hướng và thức. Nhờ đó, vị ấy vượt qua dục vọng, trở nên giải thoát và đã trở nên giải thoát, nhận ra rằng trở thành là cạn kiệt, rằng vị ấy đã sống một cuộc sống trong sạch, rằng anh ấy đã làm được những gì người ta mong đợi và anh ấy đã vĩnh viễn thoát khỏi cái chết.”

Như vậy đã kết thúc bài thuyết pháp thứ hai của Đức Phật. Các tu sĩ nghe bài pháp này đã giác ngộ ngay sau đó và trở thành những vị A-la-hán, hay bậc hoàn hảo.

Đoạn văn sau đây được sao chép lại từ Kinh Anatta-lakkhana Kinh Về Đặc Tính Vô Ngã, do Tỳ kheo Thanissaro dịch từ tiếng Pali

Đặc Tính Vô Ngã trong Kinh Anatta Lakkhana Sutta

Tôi nghe nói rằng một thời Thế Tôn đang ở tại Varanasi, nơi trú ẩn của thú săn ở Isipatana. Ở đó, ngài nói với nhóm năm tu sĩ:

“Này các Tỷ-kheo, sắc không phải là ngã. Nếu sắc là ngã, sắc này sẽ không gây ra bệnh tật. Đối với sắc, có thể nói: ‘Sắc này phải như thế này. Sắc này đừng như thế này. .’ Nhưng chính vì sắc không phải là ngã nên sắc tự nó dẫn đến bệnh tật, và đối với sắc thì không thể nói rằng: “Sắc này phải thế này, sắc này đừng như thế này”.

“Cảm thọ không phải là tự ngã…

“Nhận thức không phải là tự ngã…

“Những tạo tác [tinh thần] không phải là tự ngã…

“Thức không phải là tự ngã. Nếu thức là tự ngã thì thức này sẽ không sinh ra bệnh tật. Đối với thức, có thể nói rằng: ‘Thức của tôi hãy như thế này. Thức của tôi đừng như thế này. ‘ Nhưng chính vì thức không phải là ngã nên thức tự tạo ra bệnh tật, và đối với thức thì không thể nói rằng: ‘Thức của tôi hãy như thế này, thức của tôi đừng như thế này’.

“Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào – Sắc là thường hằng hay vô thường?”

“Không ổn định, thưa ngài.”

“Và cái đó là cái gì vô thường, dễ chịu hay căng thẳng?”

“Căng thẳng, thưa ngài.”

“Và có phù hợp không khi quán cái gì vô thường, khổ, chịu sự thay đổi như: ‘Cái này là của tôi, cái này là tự ngã của tôi, cái này là cái tôi là’?”

“Không, thưa ngài.”

“…Cảm giác là thường hằng hay vô thường?”

“Không ổn định, thưa ngài.”…

“…Nhận thức là thường hằng hay vô thường?”

“Không ổn định, thưa ngài.”…

“…Sự tạo tác là thường hằng hay vô thường?”

“Không ổn định, thưa ngài.”…

“Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào – Thức là thường hằng hay vô thường?”

“Không ổn định, thưa ngài.”

“Và cái đó là cái gì vô thường, dễ chịu hay căng thẳng?”

“Căng thẳng, thưa ngài.”

“Và có phù hợp không khi quán cái gì vô thường, khổ, chịu sự thay đổi như: ‘Cái này là của tôi, cái này là tự ngã của tôi, cái này là cái tôi là’?”

“Không, thưa ngài.”

“Như vậy, này các Tỷ-kheo, bất cứ thân nào trong quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, rõ ràng hay vi tế, phàm tục hay cao siêu, xa hay gần: mọi thân đều phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: ‘Đây là Đây không phải là của tôi. Đây không phải là tự ngã của tôi. Đây không phải là tôi.’

“Bất cứ cảm giác nào…

“Bất kỳ nhận thức nào…

“Bất kỳ sự bịa đặt nào…

Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, rõ ràng hay vi tế, thông thường hay cao thượng, xa hay gần: mọi thức đều phải được quán như thật với chánh trí tuệ như: ‘Cái này không phải của tôi. Đây không phải là tự ngã của tôi, đây không phải là tôi.’

“Thấy như vậy, vị đệ tử khéo dạy của các bậc Thánh trở nên nhàm chán với thân, nhàm chán với thọ, nhàm chán với tưởng, nhàm chán với hành, nhàm chán với thức. giải thoát hoàn toàn, có tri kiến, ‘Giải thoát hoàn toàn.’ Vị ấy tuệ giác rằng ‘Sanh đã chấm dứt, phạm hạnh đã viên mãn, nhiệm vụ đã hoàn thành. Ở thế gian này không có gì hơn nữa.'”

Đó là điều Đức Thế Tôn đã nói. Hài lòng, nhóm năm tu sĩ vui mừng trước lời nói của ngài. Và trong khi lời giải thích này được đưa ra, tâm của nhóm năm vị tu sĩ, nhờ không bám víu (không được duy trì), đã hoàn toàn thoát khỏi sự luân hồi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *