6 kỳ kiết tập kinh điển theo Phật giáo Theravāda và Những bộ kinh điển quan trọng và phổ biến nhất của Phật giáo

Kinh dien duoc viet tren la co duoi trieu vua Vattagamani Abhaya (tranh minh hoa cua Phat giao Srilanka).jpg

Những lời dạy chân thực của Đức Phật Gotama được lưu giữ và truyền lại cho chúng ta hiện diện ở trong Tam tạng

(Tipitaka). Từ Pāli “Tipitaka” có nghĩa đen là “ba giỏ” (ti = 3 + pitaka = giỏ).

Tất cả những lời dạy của Đức Phật được chia thành ba phần.

  • Phần thứ nhất là Kinh tạng (Suttanta Pitaka), bao gồm các bản kinh.
  • Phần thứ hai được gọi là Luật tạng (Vinaya Pitaka), chứa đựng tất cả những luật lệ mà Đức Phật đã chế định cho hàng Tăng Ni.
  • Phần thứ ba được gọi là Luận tạng (Abhidhamma Pitaka), bao gồm những lời dạy của Đức Phật về triết học tâm lý-đạo đức của Ngài.

Cũng được biết rằng, trong 45 năm hoằng hóa của Đức Phật, mỗi khi Ngài thuyết giảng một bản kinh cho những đệ tử xuất gia hay hàng tại gia, hoặc chế định một giới luật, những vị Tăng quảng học và nhiệt tâm ngay khi ấy sẽ ghi nhớ nguyên văn những lời dạy của Ngài.

Như vậy, những lời dạy của Đức Phật được bảo lưu một cách chính xác và được truyền thừa bằng miệng từ thầy đến đệ tử. Một số Tỳ-kheo đã nghe Đức Phật thuyết giảng, với tư cách là những A-la-hán, và như vậy theo định nghĩa là “những người thanh tịnh” thoát khỏi tham, sân và si, và do đó rõ ràng có thể duy trì trọn vẹn những lời dạy của Đức Phật. Như vậy họ bảo đảm những lời dạy của Đức Phật được lưu giữ một cách chính xác cho hậu thế.

Trong số những Tỳ-kheo nhiệt tâm, có những người dù chưa đạt được quả vị A-la-hán nhưng đã đạt được ba thánh quả đầu và có năng lực, có trí nhớ lâu, cũng có thể nhắc lại nguyên văn những gì Đức Phật đã thuyết giảng và vì vậy có thể xứng đáng là những người lưu giữ những lời dạy của Đức Phật.

Một trong số những vị Tăng như vậy là Tôn giả Ananda, người em họ của Đức Phật và người được chọn làm thị giả và thường xuyên thân cận Đức Phật trong suốt 25 năm cuối đời của Ngài. Ananda rất thông minh và có khả năng ghi nhớ bất cứ những gì mà thầy đã nghe nói. Sự thực, chính sự bày tỏ mong muốn của thầy mà Đức Phật đã luôn thuật lại những bản kinh cho thầy khi Ngài thuyết giảng mà vắng mặt thầy. Và mặc dù chưa phải là một vị A-la-hán, thầy ghi nhớ nguyên văn những bản kinh của Đức Phật.

Những nỗ lực phối hợp của những vị Tăng nhiệt tâm và có khả năng này đã làm cho Pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya) như được Đức Phật dạy, được lưu giữ ở trạng thái nguyên thủy của nó.

Tam tạng Pāli và những văn học liên hệ tồn tại như một kết quả của sự khám phá của Đức Phật về thánh đạo và con đường giải thoát của tịnh pháp. Con đường này giúp những người theo nó có thể sống một đời sống tự tại và an lạc. Sự thực, hiện nay chúng ta may mắn có được những lời dạy chân thực của Đức Phật mà chúng được lưu giữ cho những thế hệ tương lai thông qua những nỗ lực tận tâm và hợp tác của những đệ tử xuất gia của Ngài qua các thời đại.

Đức Phật nói với những đệ tử của Ngài rằng khi Ngài không còn nữa, thì điều cốt tủy là Tăng-già nên tập hợp với nhau để cùng tụng đọc lại Pháp, chính xác như những gì Ngài đã dạy. Làm đúng với lời chỉ dạy này, những vị Trưởng lão đầu tiên hợp thời đã triệu tập một hội nghị và sắp xếp một cách có hệ thống tất cả những bài kinh và những giới luật của Đức Phật và tụng đọc chính xác chúng với nguyên văn trong sự đồng thuận.

Những lời dạy chứa đựng trong Tam tạng (Pāli) cũng được gọi là Học thuyết của các Trưởng lão (Theravāda). Những bản kinh này có con số hàng trăm và luôn được tụng đọc nguyên văn ngay từ khi kỳ kiết tập lần thứ nhất được triệu tập. Sau đó, thêm những kỳ kiết tập khác đã được triệu tập vì một số lý do, nhưng ở mỗi kỳ kiết tập toàn bộ giáo pháp của Đức Phật đã luôn được những thành viên Tăng-già tham gia tụng đọc nguyên văn và bằng sự đồng thuận.

Kỳ kiết tập thứ nhất xảy ra ba tháng sau Đức Phật nhập diệt và thêm năm kỳ kiết tập khác nữa, mà hai trong đó được triệu tập vào thế kỷ XIX và XX. Những việc tụng đọc tập thể mà chúng được chư Tăng thực hiện tại những kỳ kiết tập Phật giáo được gọi là “Dhamma Sangiti” – tụng đọc Pháp. Chúng được định rõ như vậy bởi vì sự quyết định được đặt ra ở kỳ kiết tập lần thứ nhất, khi tất cả giáo pháp được tụng đọc đầu tiên bởi một vị Trưởng lão của Tăng-già và sau đó được tất cả các vị Tăng có mặt tại hội nghị đồng thanh tụng đọc lại một lần nữa. Việc tụng đọc lại như vậy được xem là xác thực, khi và chỉ khi, nó được các thành viên của hội nghị nhất trí chấp thuận. Dưới đây là một lịch sử tóm tắt về sáu kỳ kiết tập kinh điển.

Kiết tập kinh điển lần thứ nhất

Vua Ajatasattu (A-xà-thế) bảo trợ kỳ kiết tập lần thứ nhất. Kỳ kiết tập này được triệu tập vào 544 (tr.TL) tại động Satiapanni nằm bên ngoài Rajagaha (Vương Xá) ba tháng sau Đức Phật diệt độ. Một miêu tả chi tiết về hội nghị lịch sử này có thể tìm thấy ở trong Cullavagga (Tiểu phẩm) của Luật tạng. Theo tài liệu này, sự việc khiến Trưởng lão Mahakassapa triệu tập hội nghị này là ngài nghe được một nhận xét đáng buồn về luật lệ sống nghiêm khắc dành cho Tăng sĩ. Sự việc là như sau: Vị tu sĩ có tên Subhadda, trước đó là một thợ cắt tóc, đã thọ giới muộn vào cuối đời, khi nghe rằng Đức Phật nhập diệt, cất giọng oán giận là phải tuân theo tất cả những luật lệ dành cho Tăng sĩ mà Đức Phật đã chế định. Trong khi nhiều vị Tăng đang đau buồn trước sự diệt độ của Đức Phật và vô cùng tiếc thương, thì Trưởng lão Mahakassapa đã nghe Subhadda nói: “Thôi đủ rồi các Tôn giả, chớ có sầu bi, chớ có than khóc. Chúng ta được thoát khỏi vị Đại ẩn sĩ này (Đức Phật). Chúng ta đau khổ khi ông ấy nói, ‘điều này các ngươi được phép làm, điều này các ngươi không được phép làm’, còn bây giờ chúng ta sẽ có thể làm những gì chúng ta thích và không làm những gì chúng ta không thích’”.

Mahakassapa lo ngại khi nghe lời nhận xét này và sợ rằng Pháp và Luật có thể bị sai lạc và không tồn tại nguyên vẹn nếu những vị Tăng khác cũng có thái độ như Subbhada và giải thích Pháp và Luật như họ muốn. Để ngăn chặn điều này ngài quyết định rằng Pháp phải được giữ gìn và hộ trì. Cuối cùng, sau khi đạt được sự đồng thuận của Tăng-già, ngài triệu tập một hội nghị gồm 499 vị A-la-hán cùng với Ananda. Với Trưởng lão Mahakassapa làm chủ toạ, 500 vị Tỳ-kheo đã hội họp trong suốt mùa mưa. Điều đầu tiên mà Mahakassapa làm là hỏi người tinh thống nhất về Vinaya vào thời bấy giờ, Tôn giả Upāli, về những trường hợp cụ thể của giới luật. Chính Tôn giả Upāli có đủ khả năng cho nhiệm vụ này vì Đức Phật đã dạy cho thầy tất cả Vinaya. Trước hết Trưởng lão Mahakassapa đã hỏi thầy một cách cụ thể về luật định của giới thứ nhất (parajika), liên quan đến chủ thể, duyên khởi, cá nhân được giới thiệu, lời tuyên bố, lặp lại lời tuyên bố, sự vi phạm và trường hợp không vi phạm. Upāli đã trình bày những câu trả lời một cách tinh thông và thỏa đáng, và những nhận xét của thầy nhận được sự đồng thuận của Tăng đoàn hiện diện. Như vậy Vinaya chính thức được chấp thuận.

Trưởng lão Mahakassapa sau đó hướng đến Ananda bởi vì khả năng đáng phục của thầy về tất cả những vấn đề liên quan đến Pháp. Thật hoan hỷ, vào đêm trước kỳ Hội nghị được tổ chức, Ananda đã chứng đắc thánh quả A-la-hán. Trưởng lão Mahakassapa, do đó, cuối cùng có thể hỏi thầy với lòng tin tuyệt đối về Pháp với sự đề cập cụ thể những bản kinh của Đức Phật. Sự thẩm vấn về Pháp đòi hỏi thẩm tra địa điểm nơi tất cả những bản kinh được thuyết giảng và đối tượng được giảng. Ananda, được hỗ trợ bởi trí nhớ siêu xuất chính xác đến từng chữ của mình có thể trả lời một cách chính xác, và như vậy các bản kinh nhận được sự chấp thuận của Tăng đoàn. Kỳ kiết tập lần thứ nhất khép lại nơi những thắc mắc về các giới luật phụ và thứ yếu, và sự chấp thuận tuân thủ chúng. Chư Tăng đã mất bảy tháng để tụng đọc toàn bộ Luật và Pháp và những vị Tăng đó được phú cho đầy đủ trí nhớ tốt để nhớ lại tất cả những gì đã được tụng đọc. Kỳ kiết tập lịch sử lần thứ nhất này được gọi là Ngũ bách kiết tập (Pancasatika), bởi vì có 500 vị A-la-hán giác ngộ tham gia vào đó.

Kỳ kiết tập thứ hai

Kỳ kiết tập thứ hai được tổ chức 100 năm sau Đức Phật nhập Niết-bàn để giải quyết một tranh cãi nghiêm trọng về “mười điều”. Điều này đề cập đến một số tu sĩ phạm phải mười giới khinh. Chúng được liệt kê như sau:

1. Chứa muối trong ống bằng sừng.

2. Ăn sau ngọ.

3. Ăn một lần rồi và sau đó lại đi đến một ngôi làng khất thực.

4. Thực hiện lễ Bố-tát (Uposatha) cùng với các vị Tăng ở cùng một trú xứ.

5. Nghị quyết pháp sự khi hội chúng không đầy đủ.

6. Thực hành một số việc mà chúng được Hòa thượng hay giáo thọ sư trước đó làm.

7. Ăn sữa chua/ sữa hòa nước sau giờ ngọ.

8. Uống thức uống (nước trái cây) lên men (để trị bệnh).

9. Sử dụng tọa cụ không đúng kích cỡ.

10. Sử dụng vàng bạc.

Những việc làm sai trái của họ trở thành một vấn đề và gây nên sự tranh luận nghiêm trọng khi việc vi phạm những luật lệ này được nghĩ là trái với những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật. Vua Kalasoka là người bảo trợ cho kỳ kiết tập lần thứ hai và hội nghị được tổ chức ở Vesali. Chi tiết vụ việc là như sau: Một ngày, trong khi viếng Đại Lâm (Mahavana) tại Vesali, Trưởng lão Yasa biết rằng một nhóm Tăng sĩ đông đảo được gọi là những người Vajji đang vi phạm giới không cho phép Tăng sĩ nhận vàng bạc khi họ công khai xin những thứ này từ các đệ tử tại gia của họ. Ngài trực tiếp phê bình hành xử của nhóm này và phản ứng của họ là dâng cho ngài một phần những thứ có được không đúng pháp với hy vọng ngài sẽ ngã theo họ.

Tuy nhiên Trưởng lão Yasa đã khước từ và tỏ thái độ xem thường hành xử của họ. Các vị Tăng này lập tức buộc tội ngài đã khiển trách những tín đồ tại gia của họ, và yêu cầu ngài thực hiện nghi thức hòa giải. Trưởng lão Yasa do đó đã hòa giải với những tín đồ tại gia, nhưng đồng thời thuyết phục họ rằng những Tăng sĩ Vajji đã làm điều sai trái bằng việc trích dẫn lời dạy của Đức Phật về việc cấm Tăng sĩ nhận hay xin vàng bạc. Những người tại gia lập tức thể hiện sự ủng hộ đối với Yasa và tuyên bố rằng những Tăng sĩ Vajji là những người làm điều sai trái và dị giáo. Họ nói rằng “Chỉ Trưởng lão Yasa là chân Tăng, Thích tử. Còn tất cả những người khác không phải là Tăng, không phải là Thích tử”.

Những Tăng sĩ ương ngạnh Vajji lúc ấy kéo đến đuổi Trưởng lão Yasa mà không có sự chấp thuận của những thành viên còn lại của Tăng đoàn. Khi ấy họ biết ảnh hưởng việc gặp gỡ của Trưởng lão Yasa đối với những tín đồ tại gia của họ. Tuy nhiên, Trưởng lão Yasa đã tránh sự công kích của họ và đi tìm sự ủng hộ từ những vị Tăng khác, những người ủng hộ quan điểm của ngài về Vinaya. 60 vị Tăng cư trú trong rừng từ Pava và 80 vị Tăng từ những vùng phía Nam Avanti mà họ có chung suy nghĩ, đã bày tỏ giúp đỡ ngài để ngăn chặn sự suy thoái Vinaya. Họ cùng nhau quyết định đi đến Soreyya để hội ý với Tôn giả Revata vì ngài là một tăng sĩ rất được kính trọng và là một người tinh thông Pháp và Luật. Ngay khi  biết được điều này, những tăng sĩ Vajji cũng đến tìm sự ủng hộ của Tôn giả Revata bằng việc cúng dường cho ngài bốn vật dụng cần thiết nhưng ngài lập tức từ chối. Những vị Tăng này sau đó lại sử dụng phương cách ấy để thuyết phục vị thị giả của Tôn giả Revata là thầy Uttara.

Đầu tiên thầy Uttara cũng thẳn thắn khước từ sự cúng dường của họ nhưng họ đã thuyết phục thầy hãy nhận sự cúng dường của họ, nói rằng khi những vật dụng cần thiết dành cho Đức Phật đã không được Ngài nhận, Ananda được yêu cầu nhận chúng và thường được đồng ý làm như vậy. Thầy Uttara bèn đổi ý và nhận những vật dụng cần thiết. Bị họ nài nỉ, thầy này sau đó đồng ý đi đến thuyết phục Tôn giả Revata để tuyên bố rằng những Tăng sĩ Vajji thật sự là những người nói chân lý và những người hộ trì Pháp. Tôn giả Revata thấy rõ thủ đoạn của họ và khước từ ủng hộ họ. Sau đó ngài tẩn xuất Uttara. Để giải quyết vấn đề một cách dứt khoát, Tôn giả Revata khuyên nên tổ chức một hội nghị tại Valikarama và chính ngài sẽ hỏi người cao niên nhất trong số những Trưởng lão vào thời đó, Trưởng lão Sabbakami, về 10 điều vi phạm.

Mỗi khi ý kiến của ngài được trình ra nó phải được một hội đồng tám vị Tăng lắng nghe, và tính hợp lệ của nó được quyết định bởi việc biểu quyết của họ. Tám vị Tăng được mời đến để phán quyết vấn đề là Sabbakami, Salha, Khujjasobhita và Vasabhagamika từ miền Đông; và bốn vị tăng từ miền Tây là Revata, Sambhuta-Sanavasi, Yasa và Sumana. Họ thảo luận triệt để vấn đề với Revata là người đặt câu hỏi và Sabbakami trả lời những câu hỏi của ngài. Sau khi cuộc thảo luận được lắng nghe, tám vị Tăng quyết định phản đối những Tăng sĩ Vajji và phán quyết của họ được thông báo đến hội chúng. Sau đó, 700 vị Tăng tụng đọc lại Pháp và Luật và việc tụng đọc này được gọi là Sattasati (Thất bá kiết tập), bởi vì có 700 vị Tăng đã tham gia vào. Hội nghị kiết tập lịch sử này cũng được gọi là Yasatthera Sangiti (Trưởng lão Yasa kiết tập) bởi vì vai trò chính của Trưởng lão Yasa ở trong đó và sự nhiệt tâm của ngài đối với việc hộ trì Vinaya. Các Tăng sĩ Vajji dứt khoát khước từ quyết định của hội nghị và thách thức bằng việc triệu tập một hội nghị kiết tập được gọi là Mahasangiti.

Kỳ kiết tập thứ ba

Kỳ kiết tập thứ 3 được tổ chức chính yếu để tẩn xuất những tu sĩ suy thoái và giả dối, nhưng người theo quan điểm dị giáo. Kỳ kiết tập được triệu tập vào năm 326 (tr. TL) dưới triều Vua Ashoka ở Pataliputta. Trưởng lão Moggaliputta Tissa chủ trì hội nghị này và 1.000 vị Tăng dưới sự bảo trợ của Hoàng đế Ashoka.

Ashoka lên ngôi vua vào năm thứ 218 sau Đức Phật nhập Niết-bàn. Lúc đầu ông tỏ lòng tôn kính Pháp và Tăng và cũng ủng hộ những thành viên của các bộ phái tôn giáo khác như cha của ông đã từng làm trước đó. Tuy nhiên, tất cả điều này đã thay đổi khi ông gặp vị sa-di đức hạnh tên là Nigrodha, người đã thuyết cho ông Appamada-vagga (chương thứ hai của kinh Pháp cú). Sau đó ông chấm dứt việc ủng hộ các nhóm tôn giáo khác, và sự quan tâm cũng như nhiệt tâm của ông đối với Phật pháp càng sâu đậm hơn. Ông sử dụng tài sản khổng lồ đề xây dựng, như được nói, đến 84.000 ngôi chùa, tháp và tịnh xá và hào phóng ủng hộ các Tỳ-kheo bốn vật dụng cần thiết hàng ngày.

Con trai của ông là Mahinda và con gái là Sanghamitta xuất gia và gia nhập Tăng đoàn. Rốt cuộc, sự hào phóng của ông gây nên những vấn đề nghiêm trọng trong Tăng đoàn. Bấy giờ Tăng đoàn bị những thành phần bất hảo, những người có quan điểm dị giáo, trà trộn vào. Những người này gia nhập Tăng đoàn với mục đích nhận lấy sự ủng hộ hào phóng của nhà vua và để được cúng dường dồi dào thực phẩm, y phục, nơi ở và thuốc men. Một số lớn những người tham lam và xảo trá, những kẻ theo những quan kiến sai trái, tìm cách gia nhập Tăng đoàn mà được xem là không đạt tiêu chuẩn thọ giới. Bất chấp điều đó, họ nắm lấy cơ hội khai thác sự hào phóng của nhà vua cho những mục đích riêng của họ, và khoác y, gia nhập Tăng đoàn nhưng không được thọ giới đúng pháp. Do vậy sự kính trọng của dân chúng đối với Tăng đoàn bị suy giảm. Khi điều này bị phơi bày, một số vị chân tu cự tuyệt thực hiện lễ Bố-tát cùng với nhóm những vị Tăng dị giáo và suy đồi.

Khi nhà vua biết được điều này, ông tìm cách điều chỉnh lại tình hình và phái một đại thần của ông đến gặp những vị Tăng với mệnh lệnh rằng họ phải thực hiện lễ Bố-tát. Tuy nhiên, nhà vua đã không trao cho vị đại thần những điều lệnh cụ thể về cách thức gì nên được sử dụng để thực hiện mệnh lệnh của ông. Các Tăng sĩ bất tuân lệnh và vẫn không thực hiện lễ Bố-tát ở trong một hội chúng những người dối trá và lường gạt. Trong sự tuyệt vọng, vị đại thần giận dữ bước xuống chỗ những vị Tăng đang ngồi và rút kiếm lần lượt chém đầu tất cả họ, cho đến khi ông đi đến người anh của nhà vua là Tỳ-kheo Tissa.

Vị đại thần dừng lại việc sát hại và biến mất khỏi hội đường, quay về tường thuật lại với Hoàng đế Ashoka. Nhà vua vô cùng đau khổ và bi thương bởi những gì đã xảy ra và khiển trách mình đã gây nên sự giết hại. Ông tìm sự chỉ bảo của Trưởng lão Moggaliputta Tissa. Trưởng lão Tissa đề nghị rằng cần tẩn xuất những Tăng sĩ dị giáo ra khỏi Tăng đoàn và một kỳ kiết tập thứ ba được triệu tập. Như vậy, kỳ kiết tập lần thứ ba được triệu tập vào năm thứ 17 dưới triều Hoàng đế Ashoka. Trưởng lão Moggaliputta Tissa đứng đầu danh sách và đã chọn 1.000 Tăng sĩ từ 6.000 người tham gia cho việc tụng đọc truyền thống lại Pháp và Luật mà nó kéo dài 9 tháng. Chính nhà vua đã hỏi các Tăng sĩ từ một số tu viện về giáo pháp của Đức Phật. Những người nào có quan điểm sai trái sẽ bị vạch trần và lập tức bị trục xuất khỏi Tăng đoàn. Bằng cách này Tăng đoàn Tỳ-kheo đã thanh lọc những vị Tăng dị giáo và vô dụng.

Kỳ kiết tập này cũng đạt được một số điều quan trọng khác. Trưởng lão Moggaliputta Tissa để bác bỏ một số quan điểm dị giáo và bảo đảm Pháp được giữ thanh tịnh, đã biên soạn một cuốn sách trong kỳ đại hội được triệu tập, đó là cuốn Kathavatthu. Cuốn sách này bao gồm 23 chương, tập hợp những tranh luận (katha) và bác bỏ những quan điểm dị giáo về những vấn đề triết học mà những giáo phái khác nhau đã chủ trương. Nó là cuốn thứ năm trong số bảy cuốn sách của Abhidhamma Pitaka.

Một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất của kỳ kiết tập này và mang lại những thành quả tốt đẹp cho những thế kỷ sau đó, là việc nhà vua phái những Tăng sĩ, những người tinh thông Pháp và Luật của Đức Phật, những người có thể tụng đọc thuộc lòng tất cả, đến truyền bá Phật pháp ở chín quốc gia khác nhau. Những vị Tăng tinh thông Phật pháp này bao gồm Trưởng lão Majjhantika, người đã đi đến Kashmir và Gandhara. Ông được yêu cầu thuyết giảng Phật pháp và thiết lập một Tăng đoàn ở đó. Tôn giả Mahadeva được phái đến Mahinsakamandala ( Mysore hiện nay) và Trưởng lão Rakkhita được phái đến Vanavasi (Bắc Kanara ở Nam Ấn). Trưởng lão Yonaka Dhammarakkhita được phái đến Thượng Aparantaka (bắc Gujarat, Kathiwara, Kutch và Sindh). Trưởng lão Maharakkhita đi đến Yonaka-loka (mảnh đất của người Lonia , Bactria và Hy Lạp). Trưởng lão Majjhima đi đến Himavant (vùng tiếp giáp với Himalaya ). Trưởng lão Sona và Uttara được phái đến Suvannabhumi (hiện nay là Miến Điện). Trưởng lão Mahinda, Trưởng lão Ittiya, Trưởng lão Uttiya, Trưởng lão Sambala và Trưởng lão Bhaddasala được phái đến Tambapanni (hiện là Sri Lanka ).

Những phái đoàn truyền bá Phật pháp này đã thành công và mang lại những kết quả lớn vào thời ấy, và đi tiếp một con đường dài trong việc chuyển hóa dân chúng ở những vùng đất này với món quà Phật pháp và đang ảnh hưởng những nền văn minh và văn hóa của họ.

Kỳ kiết tập thứ tư

Kỳ kiết tập thứ tư được tổ chức ở Tambapanni ( Sri Lanka ) vào năm 29 (tr.TL) dưới sự bảo trợ của Vua Vattagamani. Lý do chính cho việc triệu tập là do nhận thấy rằng bấy giờ đối với đại đa số các Tăng sĩ, họ không thể nhớ được toàn bộ Tam tạng bằng trí nhớ như trường hợp Tôn giả Mahinda và những người theo ngài ngay sau đó. Do đó, khi việc viết chữ, vào thời điểm đó, về cơ bản đã được phát triển, người ta nghĩ rằng có một bộ đầy đủ trọn vẹn giáo pháp của Đức Phật được viết thành chữ là điều thích hợp và cần thiết. Vua Vattagamani ủng hộ ý kiến của chư Tăng và một hội nghị được tổ chức để rút gọn lại toàn bộ Tam tạng nhằm viết thành văn bản. Do đó, để Pháp chân thực có thể được giữ gìn lâu dài, Tôn giả Maharakkhita và 500 vị Tăng đã tụng đọc lại những lời của Đức Phật và sau đó viết chúng trên lá cọ. Công trình đặc biệt này xảy ra ở một hang động có tên gọi là Alokalena, tọa lạc ở khe nứt của một vùng đất lở cổ xưa gần Matale ngày nay. Như vậy mục đích của kỳ kiết tập được thành tựu, và Pháp chân thực được bảo lưu bằng văn bản. Vào thế kỷ XVIII, vua Vijayarajasiha đã cho tạc hình Đức Phật tại hang động này.

Kỳ kiết tập thứ năm

Kỳ kiết tập thứ 5 được tổ chức ở Mandalay, hiện nay là Miến Điện, vào năm 1871 dưới triều vua Mindon. Chủ đề chính của kỳ hội nghị này là để tụng đọc lại tất cả những lời dạy của Đức Phật và xem xét kỹ lưỡng để xem có điều nào trong đó bị thay đổi, xuyên tạc hay đánh mất không. Hội nghị được chủ trì bởi ba vị Trưởng lão: Mahathera Jagarabhivamsa, Narindabhidhaja và Mahathera Sumangalasami, cùng với khoảng 2.400 vị Tăng. Việc cùng tụng đọc Pháp của họ kéo dài 5 tháng. Cũng chính công việc của hội nghị này đã giúp toàn bộ Tam tạng được viết xuống cho hậu thế ở trên 729 phiến đá bằng chữ Miến sau khi việc tụng đọc được hoàn tất và được mọi người đồng thuận. Công việc vĩ đại này được thực hiện bởi khoảng 2.400 vị Tăng uyên bác và nhiều thợ thủ công thiện xảo…

Kỳ kiết tập thứ sáu

Kỳ kiết tập thứ sáu được triệu tập tại Kaba Aye ở Yangon (trước đây là Rangoon ) vào năm 1954, 83 năm sau kỳ kiết tập thứ 5 được tổ chức ở Mandalay . Nó được Chính phủ Miến Điện đứng đầu là Thủ Tướng U Nu bảo trợ. Ông cho phép xây dựng Maha Passana Guha, “Đại động”, một động nhân tạo giống như động Sattapanni nơi kỳ kiết tập lần thứ nhất được tổ chức. Kỳ kiết tập được tổ chức vào ngày 7-5-1954. Như trường hợp của những kỳ hội nghị trước, mục đích trước hết của nó là xác quyết và giữ gìn Pháp và Luật chân thật. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là chư Tăng tham gia kỳ kiết tập đến từ 8 quốc gia. Có 2.500 Tăng sĩ quảng học theo truyền thống Theravāda đến từ Miến Điện, Cam Pu Chia, Lào, Tích Lan, Thái Lan và Việt Nam. Cố Hòa thượng Mahasi Sayadaw được chỉ định nhiệm vụ cao quý là đặt những câu hỏi thiết yếu về Pháp cho Hòa thượng Bhadanta Vicittasarabhivamsa, người đã trả lời tất cả một cách tinh thông và làm mọi người hài lòng.

Việc tụng đọc truyền thống những kinh điển Phật giáo mất hết 2 năm và Tam tạng cùng văn học liên quan bằng tất cả những loại chữ viết được xem xét một cách cẩn thận và những khác biệt của chúng được chú thích và những hiệu chỉnh cần thiết được thực hiện và tất cả các bản sau đó được đối chiếu. Thật hoan hỷ, nó cho thấy rằng không có sự khác nhau nhiều giữa nội dung của các bản. Cuối cùng, sau khi Hội nghị chính thức đồng lòng chấp thuận, tất cả những bản kinh của Tam tạng và những luận giải về chúng đã được in bằng kỹ thuật in hiện đại và được xuất bản bằng chữ Miến. Sự thành tựu cao quý này được thực hiện qua những nỗ lực tận tâm của 2.500 vị Tỳ-kheo và nhiều cư sĩ. Công việc của họ kết thúc vào tháng 5-1956, 2.500 năm sau Đức Phật nhập Niết-bàn. Công việc của kỳ kiết tập này là thành tựu phi thường của những người đại diện từ toàn thể thế giới Phật giáo…

Source: Nibbana.com

Những bộ kinh điển quan trọng và phổ biến của Phật giáo

Kinh điển Pali

Giáo pháp của Đức Phật đã được truyền thụ chủ yếu bằng lời từ thế hệ này qua thế hệ khác trong khoảng ba đến bốn trăm năm trước khi được viết lại một cách toàn diện vào đầu thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch hơn 2.000 năm trước, tại Matale, Sri Lanka.

Lý do khiến giáo pháp này giữ được hầu như toàn vẹn về nội dung là do giáo pháp ấy đã được soạn thảo dưới một hình thức thích hợp cho việc truyền bá bằng lời, nghĩa là hầu hết đều ở dạng tóm tắt. Ngày nay, những ghi chép đầy đủ về giáo pháp của Đức Phật, tức là Kinh tạng Pali, được gìn giữ trong 37 quyển của bộ Tipitaka.

Các bài giảng của Đức Phật, vốn được Ngài nói ra bằng ngôn ngữ Magadhi, đã được cô đọng lại và viết ra; hình thức viết này được gọi là Pali, nhưng vì Pali không có hệ thống chữ viết riêng, nên giáo pháp ấy đã được ghi lại theo hệ thống chữ viết Sinhala. Trong khoảng đầu thiên niên kỷ thứ nhất, các bản dịch Tipitaka sang tiếng Hán và sau đó là tiếng Tạng cũng đã được thực hiện. Như vậy, các thủ bản gốc bằng tiếng Pali có thể được kỳ vọng là chứa đựng hầu hết những bải giảng gốc đã được chính Đức Phật nói ra.

Thế kỷ XX, toàn bộ kinh điển Tipitaka còn được viết trên một loại lá cọ đã được chuẩn bị kỹ (lá bối). Những lá bối dùng chép kinh đó sẽ bị hư hoại trong khoảng trên dưới 100 năm và như vậy, trung bình trong khoảng 100 năm, người ta phải chép lại toàn bộ hệ thống kinh điển này một lần để lưu giữ.Cuối cùng, ngay trước khi những bản chú giải bằng ngôn ngữ Sinhala bị thiêu huỷ, ngài Buddhaghosa đã dịch và biên tập những bản chú giải ấy ngược trở lại ngôn ngữ Pali trong tập Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo) của mình và nhiều tập sách khác.

Rất may là ba bản chú giải gốc được viết ra bởi những vị đại đệ tử của Đức Phật [Tôn giả Sariputa (Xá-lợi-phất), Tôn giả Kaccayana (Ca-chiên-diên)…] trong thời Đức Phật còn tại thế đã được đưa vào trong Tipitaka (nằm trong phần Khuddhaka Nikaya [Kinh Tiểu bộ]) và hiện vẫn tồn tại
Rất may là ba bản chú giải gốc được viết ra bởi những vị đại đệ tử của Đức Phật [Tôn giả Sariputa (Xá-lợi-phất), Tôn giả Kaccayana (Ca-chiên-diên)…] trong thời Đức Phật còn tại thế đã được đưa vào trong Tipitaka (nằm trong phần Khuddhaka Nikaya [Kinh Tiểu bộ]) và hiện vẫn tồn tại

Toàn bộ kinh điển Tipitaka còn được viết trên một loại lá cọ đã được chuẩn bị kỹ (lá bối)
Toàn bộ kinh điển Tipitaka còn được viết trên một loại lá cọ đã được chuẩn bị kỹ (lá bối)

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

Bát-nhã-ba-la-mật-đa là tên của một bộ kinh quan trọng, xuất hiện khoảng thế kỉ thứ nhất trước CN, với nội dung xoay quanh chính Bát-nhã-ba-la-mật-đa này, và cũng là tên của một vị Bồ Tát. Trong hệ thống này, Bát-nhã được xem là khả năng hiểu được “sự thật như nó vẫn là”, không chứa bất cứ một luận cứ triết học nào cả, chỉ nhằm thẳng bản chất của sự có, đặc biệt chỉ bằng cách dùng phương pháp nói ngược.

Cơ sở quan trọng ở đây là sự vật không có hai mặt, mà trên nó, tất cả những phương pháp nhị nguyên để nhìn vào sự vật đều bị bác bỏ: Các pháp – các hiện tượng – không tồn tại mà cũng không không tồn tại, nhưng lại mang dấu ấn của tính Không, với sự vắng mặt lâu dài của một “bản chất không biết”. Như vậy thì theo kinh văn Bát-nhã trên, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, “Sự toàn hảo của trí huệ” chính là nhận thức các pháp đều trống không, chỉ là những tên gọi, không có tự ngã và nhìn theo chân lý tuyệt đối thì không một vật nào tồn tại.

Nhiều bộ kinh Bát-nhã được biết với tên là độ dài hoặc số dòng kệ tụng chúng chứa đựng. Edward Conze, người đã dịch tất cả những bộ kinh Bát-nhã còn được lưu lại bằng Phạn ngữ sang tiếng Anh, đã nhận ra bốn thời kì phát triển của hệ kinh này:

  • 100 TCN-100: Bảo đức tích tụ bát-nhã và Bát thiên tụng bát-nhã.
  • 100-300: Thời kì phát triển với Bát nhã 18.000, 25.000, và 100.000 dòng được biên tập. Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh có thể được viết trong thời gian này.
  • 300-500: Thời kì lắng đọng lại Bát-nhã tâm kinh và Nhất tự bát-nhã được biên tập.
  • 500-1000: Văn bản thời này bắt đầu mang dấu tích của Mật giáo, chịu ảnh hưởng của Đát-đặc-la.

Kinh điển hệ Bát-nhã đã ảnh hưởng lớn đến tất cả các trường phái Phật giáo Đại thừa.

Bản Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (摩訶般若波羅蜜多經) được phát hiện tại Động Thổ Cốc Câu (吐峪溝), ốc đảo cổ đại, nằm trên sa mạc Takelamagan Shamo (塔克拉玛干沙漠- Tháp Khắc Lạp Mã Can sa mạc), một sa mạc tại Trung Á, trong khu vực thuộc khu tự trị dân tộc Ngô Nhĩ Tân Cương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Bản Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (摩訶般若波羅蜜多經) được phát hiện tại Động Thổ Cốc Câu (吐峪溝), ốc đảo cổ đại, nằm trên sa mạc Takelamagan Shamo (塔克拉玛干沙漠- Tháp Khắc Lạp Mã Can sa mạc), một sa mạc tại Trung Á, trong khu vực thuộc khu tự trị dân tộc Ngô Nhĩ Tân Cương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Bồ Tát Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Java, Indonesia)
Bồ Tát Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Java, Indonesia)

 

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thường gọi tắt là kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng nhất, được lưu truyền rộng rại ở các nước Á Đông như Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc… Tương truyền, kinh Pháp Hoa được Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng trên đỉnh núi Linh Thứu trước khi ngài nhập Bát Niết-bàn, tức vào chặng đường cuối của sự nghiệp hoằng hóa chúng sinh (ngũ thời giáo): Hoa Nghiêm, A-hàm, Phương Quảng, Bát Nhã và Pháp Hoa – Niết Bàn (theo quan niệm của Thiên Thai Tông).

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có tên đầy đủ là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Hộ Niệm. Trong đó, Diệu Pháp mang ý nghĩa là Tri kiến Phật có sẵn trong mỗi chúng sinh (Phật tính) còn Liên hoa (tức hoa sen) là một loài hoa mang ý nghĩa biểu tượng cho Diệu Pháp. Tri kiến Phật là Diệu Pháp vì đây là pháp vượt qua mọi pháp thế gian, không có pháp nào có thể sánh được Tri kiến Phật. Tri kiến Phật là pháp sẵn có, bất sinh – bất diệt có trong mọi chúng sinh tức mọi chúng sinh đều có Tri kiến Phật và có thể giác ngộ thành Phật. Tri kiến Phật là tư tưởng cốt lõi của kinh: nội dung kinh chủ yếu trình bày và diễn giải tư tưởng này.

Kinh này trình bày nhiều quan điểm chủ yếu của Phật giáo Bắc Tông và có ảnh hưởng lớn đến nhiều tông phái khác nhau của Đại thừa như Thiên Thai tông (lấy kinh này làm kinh căn bản), Thiền tông, Phật giáo Nichiren (với chủ trương niệm danh tự kinh: Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh)… Kinh được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau: tiếng Trung, tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Anh, tiếng Pháp… Thông thường các dịch bản dựa trên bộ kinh dịch từ tiếng Phạn của ngài Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva) đã biến đổi chút nhiều (có thêm các phần kệ, vài phẩm…), bản tiếng Việt lưu hành phổ biến nhất có lẽ là bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh.

Tư tưởng kinh Pháp Hoa rất đa dạng nhưng tựu chung có những tư tưởng cốt yếu như: khẳng định quan niệm Nhất thừa, Phật tính và Pháp thân (sa. Dharmakaya) thường hằng
Tư tưởng kinh Pháp Hoa rất đa dạng nhưng tựu chung có những tư tưởng cốt yếu như: khẳng định quan niệm Nhất thừa, Phật tính và Pháp thân (sa. Dharmakaya) thường hằng
Quang cảnh Phật thuyết giảng kinh Pháp Hoa trên núi Linh Thứu ở ngoại thành Xá-vệ được vẽ vào thời Kamakura (Nhật Bản)
Quang cảnh Phật thuyết giảng kinh Pháp Hoa trên núi Linh Thứu ở ngoại thành Xá-vệ được vẽ vào thời Kamakura (Nhật Bản)

Vô Lượng Thọ Kinh

Quán Vô Lượng Thọ kinh là một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh độ tông. Kinh miêu tả thế giới phương Tây của Phật A-di-đà và dạy cách hành trì: sống thanh tịnh, giữ giới luật và niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hành giả thoát khỏi các nghiệp bất thiện và được tái sinh nơi Tịnh độ của A-di-đà.

Kinh này chỉ rõ quá trình phát sinh giáo pháp của Tịnh độ tông và thật ra đã được đức Phật lịch sử Thích-ca trình bày. Tương truyền rằng, hoàng hậu Vi-đề-hi, mẹ của vua A-xà-thế, bị con mình bắt hạ ngục cùng với chồng là vua Tần-bà-sa-la. Bà nhất tâm cầu nguyện Phật và khi Phật hiện đến, bà xin tái sinh nơi một cõi yên lành hạnh phúc. Phật dùng thần lực cho bà thấy mọi thế giới tịnh độ, cuối cùng bà chọn cõi Cực lạc của A-di-đà. Phật dạy cho bà phép thiền định để được tái sinh nơi cõi đó. Phép thiền định này gồm 16 phép quán tưởng, và tuỳ theo nghiệp lực của chúng sinh, các phép này có thể giúp tái sinh vào một trong chín cấp bậc của Tịnh độ.

Mười sáu phép quán tưởng đó là: quán mặt trời lặn; quán nước; quán đáy sông; quán cây cối; quán nước cam lộ; quán thế giới thực vật; quán nước và đáy nước; quán toà sen; quán ba báo thân của ba vị thánh A-di-đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí; quán ba ứng thân của Phật A-di-đà; của Quán Thế Âm; của Đại Thế Chí; quán A-di-đà trong Tịnh độ; quán ba vị thánh trong Tịnh độ; quán cấp thượng căn trong Tịnh độ; quán cấp trung căn và hạ căn trong Tịnh độ. Các phép quán này giúp hành giả có thể thấy được A-di-đà và hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí ngay trong đời này và đó là dấu hiệu chắc chắn hành giả sẽ được tái sinh về Tịnh độ.

Kinh miêu tả thế giới phương Tây của Phật A-di-đà và dạy cách hành trì
Kinh miêu tả thế giới phương Tây của Phật A-di-đà và dạy cách hành trì
Kinh Vô Lượng Thọ
Kinh Vô Lượng Thọ

 

Duy – ma – cật kinh

Duy-ma-cật sở thuyết kinh là một tác phẩm quan trọng của Phật giáo Đại thừa, có ảnh hưởng rất lớn đến nền Phật giáo tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản. Kinh xuất hiện khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên, mang tên của Duy-ma-cật, một cư sĩ giàu có, sống cuộc đời thế tục nhưng vẫn đi trên con đường Bồ Tát. Nhờ kinh này mà người ta có thể xem cư sĩ và tăng sĩ có một mục đích như nhau trên đường tiến đến giác ngộ.

Điều may mắn hiếm có là tiếng Phạn bản của kinh này – được cho là thất truyền từ bao nhiêu thế kỉ – đã được Giáo sư Takahashi Hisao (Cao Kiều Thượng Phu) phát hiện ngày 30 tháng 6 năm 1999, trong khi ông cùng nhóm nghiên cứu đang sưu tầm thư tịch trong thư viện của cung điện Potala, kinh đô Lhasa, Tây Tạng. Sau hơn bốn năm nghiên cứu và ký âm la-tinh, bản này được nhóm Nghiên cứu Văn học Phật giáo Sanskrit, Viện Đại học Taisho, Tokyo phát hành tháng 3 năm 2004. Chất lượng văn bản khá tốt mặc dù còn nhiều lỗi ghi chép, cần được chỉnh lại trước khi dịch. Tuy nhiên, việc cho ra một bản khảo cứu vẫn còn là một điều đáp ứng được, đòi hỏi một công trình nghiên cứu, đối chiếu phục hồi văn bản hẳn hoi.

Quan niệm trọng yếu của kinh này là tính không của tất cả các pháp. Trong tính không này thì cả Hữu lẫn Vô đều được hợp nhất. Bất nhị là nền tảng của giáo lý trong kinh này thế nhưng, bất nhị rất khó diễn bày. Ba mươi hai vị Bồ Tát (chương 8) đều không trình bày nổi. Ngay cả Bồ Tát Văn Thù – hiện thân của trí huệ siêu việt – cũng không giải thích nổi bởi vì ngôn ngữ không thể diễn bày Pháp môn bất nhị này. Chỉ có Duy-ma-cật giãi bày bằng sự im lặng, một sự im lặng sấm sét . Im lặng ở đây không phải là không hiểu, không diễn bày mà chính là ngôn ngữ tuyệt đỉnh, ngôn ngữ duy nhất có thể trình bày cái Bất khả tư nghị.

Ngoài ra, kinh này còn minh họa rất sinh động cách sống của người Phật tử để nhắm đến giải thoát và cách áp dụng tri kiến về tính không trong cuộc sống hàng ngày, được Phật tử tại Đông Á, Đông Nam Á rất ưa chuộng và tụng đọc.

Nhờ kinh này mà người ta có thể xem cư sĩ và tăng sĩ có một mục đích như nhau trên đường tiến đến giác ngộ
Nhờ kinh này mà người ta có thể xem cư sĩ và tăng sĩ có một mục đích như nhau trên đường tiến đến giác ngộ
Tại thời khắc tĩnh lặng đó, Văn Thù Sư Lợi bỗng ngộ được Phật lý, trong chớp mắt Trời giáng trận mưa hoa
Tại thời khắc tĩnh lặng đó, Văn Thù Sư Lợi bỗng ngộ được Phật lý, trong chớp mắt Trời giáng trận mưa hoa

 

Kinh Đại Bát Niết Bàn

Đại thừa Đại bát Niết bàn Kinh là một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng nhất thuộc hệ Như Lai Tạng. Tương truyền, kinh này được Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng ngay trước khi ngài nhập Vô dư Niết bàn (Bát Niết bàn). Cần phân biệt rõ hai kinh: kinh Đại bát Niết bàn (hay thường viết tắt là Niết bàn kinh) theo truyền thống Phật giáo Đại thừa và kinh Đại bát Niết bàn theo truyền thống Thượng tọa bộ vì kinh Tiểu thừa Đại bát Niết bàn thuộc Trường bộ kinh trong kinh Đại thừa Đại bát Niết bàn không thuộc Trường A hàm, tương đương với Trường bộ kinh trong Bộ kinh Nikaya), văn phong kinh Đại thừa thường trừu tượng và rộng nghĩa hơn so với văn phong kinh Tiểu thừa và sự khác biệt về nội dung của hai bộ kinh này là rất lớn (có thể xem như là khác hẳn dù vẫn có một số điểm chung như cả hai đều có chi tiết sự cúng dàng của thợ rèn Thuần đà (Cunda)…).

Hiện nay, người ta chưa xác định được chính xác thời gian ra đời của kinh Niết-bàn nhưng có thể có trước tác vào khoảng thế kỷ 2 sau Công nguyên. Truyền bản của ngài Đàm-vô-sấm vẫn được lưu truyền phổ biến hơn ở các nước Đông Á (Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc…) và có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống giáo pháp ở các nước này.

Niết bàn kinh là một bộ kinh Đại thừa thuộc hệ Như Lai tạng vì nó khẳng định rằng mọi chúng sinh đều có Phật tínhhay trong kinh này là Như Lai tạng. Phật tính bất sinh, bất diệt, thường hằng và thường trụ nơi chúng sinh do đó mọi loài hữu tình đều có đầy đủ tố chất, năng lực để tự giác ngộ thành Phật.

Đó là tư tưởng đã được khẳng định nhiều lần trong nhiều bộ kinh, đặc biệt là kinh Pháp Hoa và là một trong những tư tưởng chỉ có trong giáo pháp của Phật giáo Đại thừa mà không có trong giáo lý của nhiều tôn giáo khác. Phần lớn nội dung kinh là khẳng định quan điểm “Phật tính” và cũng kèm theo đó lý luận, phân tích các luận điểm để làm sáng tỏ chủ đề ấy một cách mạch lạc, rõ ràng. Ngoài ra, một nội dung cũng tương tự Phật tính đó chính là sự thường hằng của Như Lai hay nói rõ ràng hơn là sự thường hằng của Pháp thân trong Tam thân Phật. Pháp thân Phật là thường hằng bất biến bởi Pháp thân chính là không tính, chân như là thể tính của mọi sự.

Bản kinh Đại thừa Đại-bát Niết-bàn vào thời nhà Tùy (Trung Hoa)
Bản kinh Đại thừa Đại-bát Niết-bàn vào thời nhà Tùy (Trung Hoa)
Tượng Phật nhập Niết-bàn từ thế kỉ 17, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội)
Tượng Phật nhập Niết-bàn từ thế kỉ 17, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội)

Hoa Nghiêm Kinh

Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, thường được gọi tắt là kinh Hoa Nghiêm là một kinh điển Đại thừa. Kinh Hoa Nghiêm được đánh giá là kinh điển đồ sồ nhất và dài nhất trong số các kinh của Phật giáo, theo nhận xét của dịch giả Thomas Cleary thì kinh này là “hoành tráng nhất, toàn thiện nhất và cấu tứ thẩm mỹ nhất trong số tất cả kinh điển Phật giáo.”

Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm thuộc dòng Phương Quảng trong mười hai bộ kinh. Tương truyền kinh này gồm ba bản do mỗi thân Phật trong Tam thân Phật thuyết và được cất giữ ở Long Cung (cung loài Naga). Sau này, chỉ có bản kinh của Ứng thân (Phật Thích-ca Mâu-ni) được truyền lên nhân gian. Kinh này gồm 40 phẩm trải đều 81 quyển (Hán bản) trong đó quan trọng nhất là phẩm Nhập Pháp giới (phẩm 39) và phẩm Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện (phẩm 40, là một trong năm kinh điển căn bản của Tịnh Độ tông). Kinh Hoa Nghiêm được xem là kinh điển quan trọng nhất của Hoa Nghiêm tông.

Kinh là một trong số những kinh Phật dài nhất, là sự tổng hợp các bản văn khác nhau về các chủ đề khác nhau như con đường Bồ tát , sự tương thông của các hiện tượng (các pháp ), sự toàn giác của Phật tính, thần thông của chư Phật và chư Bồ tát, năng lực thị giác của thiền định, và sự bình đẳng của mọi thứ trong tính không.

Kinh nhấn mạnh đến tính “vô ngại” của mọi hiện tượng và chủ trương rằng tâm con người chính là vũ trụ và đồng thể với tâm Phật. Quan điểm này của Đại thừa hay được Thiền tông nhấn mạnh và vì thế, kinh này cũng thường được tông này nhắc đến.

Giáo pháp trong kinh này không phải do Phật Thích-ca trực tiếp truyền dạy – trong hội này Phật nói rất ít – mà là phát biểu của các dạng xuất hiện của Pháp thân (Tam thân). Sự im lặng của Phật Thích-ca biểu hiện tính Không và sự truyền dạy giáo pháp được hiểu là một dạng của Chân như, xuất hiện cho con người hiểu được. Tương truyền kinh này rất khó hiểu, chỉ các Đại Bồ Tát mới lĩnh hội được.

Hình minh họa Kinh Hoa Nghiêm tại Hàn Quốc. Triều đại Joseon, năm 1644
Hình minh họa Kinh Hoa Nghiêm tại Hàn Quốc. Triều đại Joseon, năm 1644
Một tấm gấm của Đức Phật, với thân hình được tạo thành từ vô số hóa thân của các vị bồ tát thể hiện tinh thần của kinh
Một tấm gấm của Đức Phật, với thân hình được tạo thành từ vô số hóa thân của các vị bồ tát thể hiện tinh thần của kinh

Lăng Nghiêm Kinh

Thủ Lăng nghiêm tam muội Kinh là một bộ kinh Đại thừa. Tên đầy đủ của kinh này là Phật nói Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh. Bộ kinh này thuộc Phật giáo Đại thừa thời kì đầu, nội dung rất tương quan với kinh Duy-ma-cật sở thuyết. Tam-muội có nghĩa là thiền định, là trạng thái của tâm tập trung chuyên nhất vào một điểm. Trạng thái định được đề cập trong kinh này là Thủ lăng nghiêm.

Gọi là Kiện hành vì bất kì ai đã có được đại định này thì dù ở trong bất kì hoàn cảnh nào cũng có phong cách của vị kiện tướng, sẽ không gặp bất kì trở lực nào. Kinh này chắc thật có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng nay chúng ta chỉ còn có vài bản tiếng Phạn không hoàn chỉnh: hai phần trích dẫn trong Tập Bồ Tát học luận của Tịch Thiên và một số trang bản thảo được khám phá ở miền Tây xứ Turkestan. Bản kinh hoàn chỉnh được lưu hành hiện nay nhờ hai bản dịch: một do Cưu-ma-la-thập dịch sang tiếng Hán có lẽ vào khoảng từ năm 402–409, và một bản dịch tiếng Tây Tạng vào khoảng đầu thế kỉ thứ 9 được xem là do sự hợp tác của học giả Ấn Độ Thích-ca Quang và các nhà chú giải Trung Hoa khác. Những bản dịch này nay đã thất lạc, chúng ta chỉ còn được biết đến tên kinh.

Kinh cũng khai triển sự phân biệt giữa ý thức phân biệt và chân tâm phổ cập (chứng ngộ trọn vẹn như trong tựa) hiện diện không phân biệt trong tất cả các pháp. Kinh có những chỉ dẫn cụ thể liên quan đến thiền định, miêu tả 57 giai đoạn đến cảnh giới Bồ Tát, giải thích rõ ràng về nghiệp và tái sinh, cũng như sự trình bày 50 “tâm giới” ma quỷ mà người tu tập có thể gặp phải trên con đường tâm linh. Theo Thiền sư Hám Sơn Đức Thanh (triều đại nhà Minh), Kinh Lăng Nghiêm chỉ có thể được thông hiểu gián tiếp qua tri giác trung thực nhờ tu tập “Du già hiện sự”, bằng cách loại trừ mọi dấu vết của sự phân biệt có ý thức.

Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú, bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật pháp
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú, bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật pháp
“Kinh của đỉnh Đại Phật, chứng ngộ trọn vẹn do tu hành nguyên nhân bí mật của các Như Lai, nền móng của vạn hạnh của tất cả các Bồ Tát”

Kinh Dược Sư

Kinh Dược Sư được nhà sư Phật giáo Trung Quốc Huyền Trang đã đến thăm một tu viện ở Bamiyan, Afghanistan vào thế kỷ thứ 7 CN. Các mảnh bản thảo của một số bộ kinh Dược sư đã được phát hiện tại địa điểm này.

Kinh này, đức Phật chỉ dạy cho ta mỗi khi đau ốm phải tìm thầy, chạy thuốc chữa bệnh. Thêm vào đó một phương pháp chữa bệnh linh nghiệm không kém, đó là sức tin tưởng. Tụng danh hiệu đức Ðông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tức là cầu tìm đúng thuốc chữa đúng căn bệnh của mình, không tin những tà ma yêu nghiệt, những bọn thầy pháp chuyên đem chuyện mê tín dị đoan chữa bệnh khiến phải sa đọa vào vòng hoạnh tử. Lại nữa, trong kinh Dược Sư khuyên ta không được nghe sằng, tin nhảm làm bùa làm phép lung tung, giết hại sinh vật cúng cấp thần linh, ma quái. Nếu làm những chuyện như thế chỉ khiến gia tăng tội lệ mà bệnh không những không khỏi, đôi khi còn bị chết oan là khác.

Vậy phương pháp tụng kinh Dược Sư là tăng trưởng lòng tin chân chính của mình mà chữa bệnh cho chính mình, đồng thời phải lo thuốc thang chạy chữa và tránh những kẻ yêu ma lòe bịp cúng thần tróc quỷ, mới mong bệnh hoạn mau lành.

Ðiều cốt yếu là khi tụng kinh này tưởng nên theo phương pháp “tự tha hổ trợ” nghĩa là dùng sức mình tin tưởng và sức người giúp đỡ, sức người tức là sự minh y của ông thầy thuốc hiệp với sức kỳ nguyện của những người tụng kinh thì nhất định mau khỏi bệnh vậy.

Tranh vẽ Phật Dược Sư ở cõi Tịnh độ phương Đông
Tranh vẽ Phật Dược Sư ở cõi Tịnh độ phương Đông
Kinh Dược Sư là loại kinh phổ biến hiện nay
Kinh Dược Sư là loại kinh phổ biến hiện nay

Kinh lương hoàng sám

Phàm là người sanh trong cõi Dục này, trừ các bực đã hoàn toàn giác ngộ, thì không một ai tránh khỏi lỗi lầm, bởi ba nghiệp gây nên. Các tội lỗi dã từ ba nghiệp phát sanh, nên người muốn dứt trừ hết tội lỗi, tất nhiên phải đem ba nghiệp ấy để sám hối, thì tội lỗi mới được thanh tịnh.

Toàn bộ kinh này là những lời sám nguyện giải trừ mọi điều tội lỗi. Còn gọi là kinh Ðại Sám. Nội dung kinh này khá dài, nguyên nhân trước thuật kinh này là vì vua Lương Vũ Ðế xưa không tin Phật pháp, chỉ tin ngoại đạo. Thuở còn hàn vi, có vợ là Hy-thị, nhân sự ghen tuông mà tự trầm mình dưới giếng. Ðến khi Lương Vũ Ðế lên ngôi vua thì Hy-thị hóa làm con rắng mãng xà quấy rối cung vi.

Thỉnh khắp các hàng Thuật sĩ đến chú nguyện mà không công hiệu. Sau có Tề Công Trưởng Lão dạy làm đàn tràng sám nguyện cầu rửa tội khiên ác độc nên nhờ đó Hy-thị hiện thân tạ ơn là đã thác sinh. Từ đấy Lương Vũ Ðế mới tin theo Phật pháp, ví vậy mà tập Kinh Sám Nguyện này đặt tên là Lương Hoàng.

Cũng vì tụng kinh này rũ sạch được mọi tội lỗi nên nay thường tụng trong việc báo hiếu cha mẹ hoặc ngày giỗ chạp gia tiên.

Toàn bộ kinh Lương Hoàng Sám là những lời sám nguyện giải trừ mọi điều tội lỗi. Cũng vì tụng kinh này rũ sạch được mọi tội lỗi nên nay thường tụng trong việc báo hiếu cha mẹ hoặc ngày giỗ chạp gia tiên
Toàn bộ kinh Lương Hoàng Sám là những lời sám nguyện giải trừ mọi điều tội lỗi. Cũng vì tụng kinh này rũ sạch được mọi tội lỗi nên nay thường tụng trong việc báo hiếu cha mẹ hoặc ngày giỗ chạp gia tiên
Toàn bộ kinh Lương Hoàng Sám là những lời sám nguyện giải trừ mọi điều tội lỗi. Còn gọi là kinh Ðại Sám
Toàn bộ kinh Lương Hoàng Sám là những lời sám nguyện giải trừ mọi điều tội lỗi. Còn gọi là kinh Ðại Sám

Kinh Địa Tạng Bồ Tát

Địa Tạng hay Địa Tạng Bồ Tát là một vị Phật trong Phật giáo. Theo Kinh điển Phật giáo lưu lại, Địa Tạng Bồ Tát là một Tì kheo đã phát lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời gian sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn cho đến khi Bồ tát Di Lặc hạ sinh, và nguyện không chứng đăc Phật quả nếu không làm cho địa ngục trống không. Ngài Địa Tạng Bồ Tát chính là vị Phật của tất cả chúng sinh nơi địa ngục hay được gọi là Giáo chủ cõi U Minh, phổ độ chúng sinh ở cõi U Minh tối tăm.

Kinh này được cho là đã được Đức Phật nói vào cuối cuộc đời của Ngài với các chúng sinh của cung trời Đao Lợi như một sự tri ân và tưởng nhớ đối với người mẹ yêu dấu của Ngài, Maya.

Kinh này thuật lại lời Phật chỉ dạy cho các đệ tử biết nguyện lực của một vị Bồ Tát vô cùng cao rộng:” địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”nghĩa là địa ngục mà còn người, ngài thề chưa thành Phật, vị đó là ngài Ðịa Tạng Bồ Tát.

Cũng do nguyện lực đó mà ngài Ðịa Tạng thường cứu độ chúng sanh trong cõi ngục tù tăm tối. Cho nên kinh này có công năng siêu độ cho thất tổ, cửu huyền và tất cả chúng sanh khổ ách.

Yếu lý của kinh này là nhân nguyện lớn của Bồ Tát, mình cũng phải phát tâm Bồ đề, tâm lặng tức là thoát khỏi địa ngục, tụng kinh cầu nguyện là lấy sức thần giao cách cảm của mình linh ứng với những linh giác chưa được siêu thoát, nhờ uy lực và thần lực sẽ được siêu thăng. Cho nên tụng kinh Ðịa Tạng có thể đưa người ở chốn tam đồ lục đạo đến nơi bát đức vậy.

Lời nguyện ban đầu của Kinh Địa Tạng Vương Bồ tát với Pháp hội tại Vultura Peak , nguồn gốc: triều đại nhà Minh, 1429
Lời nguyện ban đầu của Kinh Địa Tạng Vương Bồ tát với Pháp hội tại Vultura Peak , nguồn gốc: triều đại nhà Minh, 1429
Tranh vẽ Địa Tạng Vương ở Đôn Hoàng
Tranh vẽ Địa Tạng Vương ở Đôn Hoàng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *