Kinh Quán Vô Lượng Thọ
Như vậy, tôi nghe một lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai ở tại thành Vương Xá trong núi Kỳ Ðà Quật, cùng chúng đại Tỳ kheo, một ngàn hai trăm năm mươi người câu hội.
Chúng Bồ tát có ba vạn hai ngàn, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử đại Bồ tát làm thượng thủ.
Lúc bấy giờ thành Vương Xá có một Thái Tử tên là A Xà Thế, thuận theo lời bảo của ác hữu Ðiều Ðạt, bắt Vua cha Tần Bà Sa La nhốt trong nhà tối bảy từng cửa, cấm các quan không một ai được vào.
Quốc Thái phu nhơn tên là Vi Ðề Hi cung kính Ðại Vương, tắm gội sạch sẽ, lấy tô và mật nhồi mì sợi rồi trét lên thân, trong hột chuỗi ngọc đeo đựng nước nho, đi vào ngục thăm Ðại Vương kín đáo dâng lên.
Ðại Vương Tần Bà Sa La ăn mì, uống nước nho, rồi xin nước súc miệng. Súc miệng xong, Ðại Vương chắp tay cung kính hướng về núi Kỳ Xà Quật vói đảnh lễ Thế Tôn mà bạch rằng: “Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên là thân hữu của tôi, nguyện hưng từ bi truyền thọ giới Bát Quan Trai cho tôi”.
Liền đó Tôn Giả Ðại Mục Kiền Liên, như chim ưng, bay mau đến chỗ Vua, truyền giới Bát Quan Trai cho Vua. Ngày ngày đều như vậy, đến truyền giới cho Vua. Ðức Thế Tôn cũng sai Tôn giả Phú Lâu Na đến vì Vua mà thuyết pháp.
Thời gian như vậy trải qua hai mươi mốt ngày, Ðại Vương Tần Bà Sa La ăn mì mật, uống nước nho, lại được thọ giới Bát Quan Trai, được nghe thuyết pháp nên nhan sắc Vua hòa vui.
A Xà Thế hỏi người giữ cửa ngục rằng: “Hôm nay Phụ Vương ta vẫn còn sống ư? “.
Người giữ cửa ngục tâu rằng: “Tâu Ðại Vương! Quốc Thái phu nhơn trên thân trét mì mật, trong chuỗi ngọc đựng nước nho, đem dâng lên Vua. Còn có Sa môn Ðại Mục Kiền Liên và Phú Lâu Na đi từ trên hư không đến vì Vua thuyết pháp, chẳng thế cấm cản được”.
A Xà Thế nghe lời ấy giận Mẹ mình rằng: “Mẹ ta là giặc làm bạn với giặc. Sa Môn ác nhơn huyễn hoặc chú thuật khiến ác vương ấy nhiều ngày mà chẳng chết”. A Xà Thế liền cầm gươm bén muốn giết mẹ.
Lúc ấy có một đại thần tên là Nguyệt Quang, thông minh nhiều trí, cùng với Kỳ Bà đến lễ Vua A Xà Thế mà tâu rằng: “Tâu Ðại Vương! Chúng Thần nghe Tỳ Ðà Luận kinh nói từ kiếp sơ đến nay có các ác vương, vì tham ngôi Vua mà giết hại cha mình, đến số một vạn tám ngàn. Chưa từng nghe nói có kẻ vô đạo hại mẹ. Nay Ðại Vương làm sự sát nghịch này làm ô uế dòng Sát Ðế Lợi. Chúng thần chẳng nở nghe. Ðây là Chiên Ðà La. Chúng tôi chẳng nên còn ở lại nơi đây”. Hai vị thần tâu rồi lấy tay vỗ lên gươm đi lui mà ra.
A Xà Thế kinh sợ, hãi hùng bảo Kỳ Bà rằng: “Còn anh cũng chẳng vì ta chăng?”. Kỳ Bà tâu rằng: “Ðại Vương cẩn thận chớ có hại mẹ”.
A Xà Thế nghe lời ấy, sám hối cầu cứu, liền bỏ gươm, thôi không hại mẹ, truyền lịnh cho nội quan nhốt mẹ vào thâm cung chẳng cho ra nữa.
Vi Ðề Hi bị giam nhốt rồi, sầu lo tiều tụy, vói hướng về núi Kỳ Xà Quật lạy Phật mà nói rằng: “Ngày trước Ðức Như Lai Thế Tôn thường hay sai Tôn giả A Nan đến thăm hỏi tôi. Nay tôi sầu lo, đức Thế Tôn oai trọng không sao được thấy. Duy nguyện đức Thế Tôn sai các Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên và A Nan đến cho tôi được thấy”. Nói xong, Vi Ðề Hi buồn khóc, lệ rơi như mưa, vói hướng lạy Phật, trong khoảng thời gian chưa cất đầu lên.
Ðức Thế Tôn ở núi Kỳ Xà Quật biết tâm niệm của Vi Ðề Hi, liền bảo Ðại Mục Kiền Liên và A Nan đi từ trên hư không. Ðức Phật từ núi Kỳ Xà Quật ẩn mất, hiện ra nơi Vương cung.
Vi Ðề Hi lạy rồi ngước đầu lên, thấy Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, thân màu tử kim, ngồi trên hoa sen trăm báu, Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên hầu bên tả, Tôn giả A Nan hầu bên hữu. Trong hư không hàng Phạm Vương, Ðế Thích, Hộ Thế Tứ Vương mưa hoa trời khắp nơi để cúng dường.
Vi Ðề Hi thấy Phật Thế Tôn, liền tự bứt chuỗi ngọc, cả thân mình gieo xuống đất kêu khóc hướng Phật mà bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Xưa tôi tội gì mà sanh đứa ác tử ấy. Ðức Thế Tôn lại có nhơn duyên gì mà cùng làm quyến thuộc với Ðề Bà Ðạt Ða. Duy nguyện đức Thế Tôn vì tôi mà nói rộng những xứ không có lo khổ tôi sẽ vãng sanh, tôi không còn thích cõi Diêm phù Ðề trược ác thế nầy. Xứ trược ác nầy đầy những địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nhiều khối bất thiện. Nguyện tôi đời vị lai chẳng nghe danh từ ác, chẳng thấy người ác. Nay tôi hướng về Thế Tôn, năm vóc gieo xuống đất, cầu thương cho tôi sám hối. Duy nguyện Phật Nhựt dạy tôi quán nơi xứ nghiệp hành thanh tịnh”.
Ðức Thế Tôn phóng ánh sáng giữa hai mày, ánh sáng ấy màu chơn kim, chiếu khắp mười phương vô lượng thế giới, trở về trụ tại đỉnh đầu Phật, hóa làm đài chơn kim lớn như núi Tu Di, bao nhiêu quốc độ thanh tịnh vi diệu của mười phương chư Phật đều hiện rõ trong đài vàng ấy.
Hoặc có quốc độ thất bửu hiệp thành. Hoặc có quốc độ thuần là liên hoa. Lại có quốc độ như tự tại Thiên cung. Lại có quốc độ như gương pha lê. Có vô lượng quốc độ chư Phật như vậy trang nghiêm xinh đẹp, khiến Vi Ðề Hi được thấy.
Vi Ðề Hi bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Dầu các Phật độ ấy đều thanh tịnh đều có quang minh. Nay tôi thích sanh về Cực Lạc thế giới, chỗ của đức Phật A Di Ðà. Duy nguyện đức Thế Tôn dạy tôi tư duy, dạy tôi chánh thọ”.
Ðức Thế Tôn liền mĩm cười, có ánh sáng ngũ sắc từ miệng Phật phóng ra, mỗi mỗi ánh sáng chiếu đỉnh đầu vua Tần Bà Sa La.
Dầu bị giam cầm ngục tối, tâm nhãn vua không chướng ngại xa thấy đức Thế Tôn, vua đầu mặt lạy Phật, tự nhiên tăng tiến đạo lực thành bực A Na Hàm.
Ðức Phật bảo Vi Ðề Hi: “Nay Thái phu nhơn có biết chăng? Phật A Di Ðà cách đây chẳng xa, bà nên nhiếp niệm quán kỹ cõi nước ấy thì tịnh nghiệp được thành.
Nay ta sẽ vì bà mà nói rộng các pháp quán, cùng khiến đời vị lai tất cả hàng phàm phu, những người muốn tu tịnh nghiệp được thọ sanh Tây Phương Cực Lạc quốc độ .
Nầy Vi Ðề Hi! Người muốn sang nước Cực Lạc ấy nên tu ba phước.
Một là hiếu nuôi cha mẹ, kính thờ bực Sư Trưởng, có tâm nhơn từ chẳng giết hại và tu tập mười nghiệp lành.
Hai là thọ trì Tam Quy y, đầy đủ các cấm giới và chẳng phạm oai nghi.
Ba là phát tâm Bồ Ðề, sâu tin nhơn quả, đọc tụng Kinh điển Ðại Thừa và khuyên dạy sách tiến người tu hành. Ba sự như vậy gọi là tịnh nghiệp.
Nầy Vi Ðề Hi! Nay bà có biết chăng? Ba tịnh nghiệp ấy là chánh nhơn tịnh nghiệp của tam thế chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi rằng: “Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ nhớ kỹ. Nay Như Lai vì tất cả chúng sanh đời vị lai, những kẽ bị giặc phiền não nhiễu hại mà nói nghiệp thanh tịnh. Lành thay cho Vi Ðề Hi khéo hỏi được việc ấy.
Nầy A Nan! Ông nên thọ trì rộng vì đại chúng mà tuyên nói lời Phật.
Hôm nay chư Phật vì Vi Ðề Hi và vị lai tất cả chúng sanh quán nơi Tây Phương Cực Lạc quốc độ, do nguyện lực Phật nên sẽ được quốc độ thanh tịnh ấy, như cầm gương sáng tự thấy hình tượng mặt mình. Thấy những sự vui cùng cực vi diệu của quốc độ ấy, nên tâm vui mừng liền được Vô Sanh Pháp Nhẫn.”.
Ðức Phật bảo Vi Ðề Hi: “Bà là phàm phu, tâm tưởng yếu kém, chưa được thiên nhãn chẳng thể thấy được xa. Chư Phật Như Lai có phương tiện lạ khiến bà được thấy”.
Vi Ðề Hi bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Như hôm nay tôi nhờ oai lực của đức Phật Thế Tôn mà được thấy quốc độ Cực Lạc ấy. Nếu sau khi đức Phật Thế Tôn diệt độ, các chúng sanh trược ác, bất thiện, bị ngũ khổ bức ngặt, họ làm thế nào có thể được thấy A Di Ðà Phật Cực Lạc Thế Giới?”.
Ðức Phật bảo Vi Ðề Hi: “Bà và chúng sanh nên phải chuyên tâm buộc niệm một chỗ, tưởng nơi phương Tây. Tưởng niệm thế nào?
Tất cả chúng sanh, những người có mắt sáng mà chẳng phải là kẻ sanh manh, thì đều thấy mặt nhựt lặn cả.
Phàm người tu tập quán tưởng nên phát khởi tưởng niệm, ngồi quay thẳng hướng về phía Tây, quán kỹ chỗ mặt nhựt sắp lặn, khiến tâm niệm trụ vững chuyên tưởng nhớ chẳng dời. Thấy mặt nhựt sắp lặn, dạng như mặt trống đồng treo. Ðã thấy mặt nhựt rồi, nhắm mắt mở mắt đều khiến phải sáng tỏ. Ðây là nhựt tưởng, gọi là pháp quán ban đầu.
Kế đó quán tưởng nước. Thấy nước đứng trong, cũng khiến phải sáng tỏ, ý tưởng không phân tán. Ðã thấy nước rồi, nên quán tưởng băng, thấy băng chói suốt, tưởng làm lưu ly. Tưởng nầy thành rồi, thấy đất lưu ly trong ngoài suốt chói, phía dưới có tràng vàng, kim cương, thất bửu bưng chống đất lưu ly. Kim tràng ấy tám phương đầy đủ tám cạnh. Mỗi mỗi phương tiện do trăm châu báu làm thành. Mỗi mỗi bửu châu có ngàn ánh sáng. Mỗi mỗi ánh sáng có tám vạn bốn ngàn màu chói đất lưu ly, sáng như ức ngàn mặt nhựt chẳng thể thấy đủ hết được.
Trên đất lưu ly, có dây hoàng kim xen kết lẫn lộn với thất bửu, giăng phân ranh giới chừng ngằn ngang rộng phân minh. Trong mỗi mỗi thất bửu ấy có ánh sáng ngũ sắc. Ánh sáng ấy như đóa hoa, lại có như sao như trăng, lững lờ trên hư không tạo thành đài ánh sáng. Có ngàn vạn lầu các do trăm báu hiệp thành. Hai bên đài dều riêng có trăm ức hoa tràng, với vô lượng nhạc khí, dùng làm trang nghiêm. Tám thứ gió mát từ ánh sáng phát ra, xao động các nhạc khí ấy, vang ra tiếng diễn nói khổ, không, vô thường, vô ngã. Ðây là thủy tưởng gọi là pháp quán thứ hai. Lúc quán tưởng này đã thành, phải mỗi mỗi sự quán thấy thật rõ ràng, lúc nhắm mắt, lúc mở mắt chớ để tan mất, chỉ trừ lúc ăn, thường nhớ sự ấy. Như tưởng quán ấy gọi là thô, thấy đất Cực Lạc quốc độ. Nếu được tam muội thì thấy đất cõi nước Cực Lạc tỏ rõ phân minh, chẳng thể nói đủ hết. Ðây là địa tưởng, gọi là pháp quán thứ ba.
Ðức Phật bảo Tôn giả A Nan: “Nầy A Nan! Ông thọ trì lời Phật vì đời vị lai tất cả đại chúng, những người muốn thoát khổ, mà nói pháp quán địa ấy. Nếu người quán địa ấy thì trừ được tội sanh tử trong tám mươi ức kiếp, bỏ thân hiện tại, đời khác quyết định thọ sanh quốc độ thanh tịnh, tâm được không nghi. Quán tưởng đây gọi là chánh quán. Nếu quán tưởng khác thì gọi là tà quán”.
Ðức Phật bảo Tôn giả A Nan và Vi Ðề Hi: “Ðịa quán thành rồi, kế tưởng Bửu Thọ.
Người quán cây báu phải quán mỗi mỗi cây. Tưởng bảy lớp hàng cây báu. Mỗi cây báu cao tám ngàn do tuần. Các cây báu ấy đều đầy đủ bông lá bảy báu. Mỗi mỗi bông lá tưởng màu khác lạ. Trong màu lưu ly phóng ánh sáng màu hoàng kim. Trong màu pha lê phóng ánh sáng màu hồng. Trong màu mã não phóng ánh sáng màu xa cừ. Trong màu xa cừ phóng ánh sáng màu lục chơn châu. San hô hổ phách tất cả các báu dùng làm chói đẹp. Màn lưới diệu chơn châu giăng che trên cây báu. Trên mỗi mỗi cây báu có bảy lớp màn lưới. Khoảng mỗi mỗi lưới có năm trăm ức cung điện xinh đẹp, vi diệu, như cung Trời Phạm Vương, có các thiên đồng tử tự nhiên ở trong ấy. Mỗi mỗi đồng tử có năm trăm ức châu ma ni Thích Ca Tỳ lăng già, dùng làm chuỗi đeo. Ánh sáng mỗi châu ma ni ấy chiếu trăm ức do tuần, dường như hòa hiệp ánh sáng của trăm ức nhựt nguyệt chẳng thể kể hết. Các báu xen lẫn màu sắc sáng đẹp nhất trong các màu sắc.
Các cây báu ấy hàng hàng ngay nhau, lá lá kế nhau. Giữa khoảng các lá sanh những hoa vi diệu. Trên hoa tự nhiên có quả thất bửu. Mỗi mỗi lá cây ngang rộng đều hai mươi lăm do tuần. Lá ấy có ngàn màu, trăm thứ lằn vẽ như chuỗi ngọc Trời. Có những hoa vi diệu màu diêm phù đàn kim, như vòng lửa xoay chói sáng, uyển chuyển khoảng giửa lá, vọt sanh những quả như bình báu của Thiên Ðế Thích, phóng đại quang minh hóa thành tràng phan và vô lượng lọng báu. Trong lọng báu ấy chói hiện tất cả Phật sự trong toàn cõi thế giới, thập phương thế giới chư Phật cũng hiện bóng trong lọng báu ấy.
Thấy Bửu Thọ ấy rồi, cũng phải mỗi mỗi quán sát thân cây, nhánh lá, bông trái đều phải phân minh. Ðây là thọ tưởng gọi là pháp quán thứ tư. Kế nên tưởng nước.
Người muốn tưởng nước nên biết Cực Lạc thế giới có ao nước bát công đức. Mỗi mỗi ao nước bảy báu làm thành. Báu ấy nhu nhuyến từ như ý châu vương sanh, chia làm mười bốn chi, mỗi mỗi chi làm sắc đẹp bảy báu. Hoàng kim làm lòng ao. Dưới lòng ao có kim cương nhiều màu làm cát tráng đáy.
Trong nước mỗi mỗi ao báu ấy đều có sáu mươi ức hoa sen thất bửu. Mỗi mỗi hoa sen tròn đều mười hai do tuần. Nước ma ni chảy rót trong khoảng lá, theo thân cây sen mà lên xuống, phát ra âm thanh vi diệu diễn nói khổ, không, vô thường, vô ngã, các Ba La Mật, còn có tiếng tán thán tướng hảo của chư Phật.
Như ý châu vương phóng ra ánh sáng vi diệu màu hoàng kim. Ánh sáng ấy hóa ra các giống chim màu trăm báu, hòa hót êm nhã, thường tán thán niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng.
Ðây là tưởng nước bát công đức gọi là pháp quán thứ năm.
Trong quốc độ Cực Lạc diệu bửu ấy, mỗi mỗi khu vực có năm trăm ức lầu báu. Trong lầu các ấy có vô lượng chư Thiên trỗi thiên kỷ nhạc. Còn có nhạc khí treo ở hư không, như bửu tràng cõi Trời, chẳng đánh tự kêu. Trong các âm thanh ấy đều diễn nói niệm Phật, niệm pháp, niệm Tỳ Kheo Tăng.
Pháp tưởng này thành rồi, gọi là thô thấy Cực Lạc thế giới bửu thọ, bửu địa, và bửu trì, đây là tổng quán tưởng gọi là pháp quán thứ sáu.
Nếu thấy như vậy thì trừ vô lượng ức kiếp cực trọng ác nghiệp, sau khi mạng chung, quyết định sanh nước Cực Lạc.
Quán đây gọi là chánh quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán”.
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ nhớ kỷ đó. Ta sẽ vì các ngươi phân biệt giải thuyết pháp trừ khổ não. Các ngươi ghi nhớ, thọ trì, rộng vì đại chúng phân biệt giải thuyết”.
Lúc đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn nói lời ấy, Phật Vô Lượng Thọ hiện đứng trên hư không, Quán Thế Âm Bồ tát đứng hầu bên tả, Ðại Thế Chí Bồ tát đứng hầu bên hữu, ánh sáng chói rực chẳng thể thấy rõ hết, trăm ngàn lần màu vàng diêm phù đàn kim chẳng thể sánh được.
Vi Ðề Hi thấy Phật Vô Lượng Thọ rồi tiếp tục lễ lạy. Lễ lạy xong, Vi Ðề Hi bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nay tôi nhơn oai lực Phật mà được thấy Vô Lượng Thọ Như Lai cùng hai Ðại Sĩ Quán Thế Âm Bồ tát và Ðại Thế Chí Bồ tát. Ðời vị lai, các chúng sanh sẽ phải thế nào quán thấy Phật Vô Lượng Thọ và hai Bồ tát ấy?”
Ðức Phật bảo Vi Ðề Hi: “Ngươi muốn quán Phật Vô Lượng Thọ thì nên khởi tưởng niệm: Ở trên mặt đất thất bửu tưởng có hoa sen, trên mỗi mỗi cánh hoa tưởng màu bá bửu, có tám vạn bốn ngàn đường gân dường như bức họa cõi Trời, mỗi đường gân có tám vạn bốn ngàn ánh sáng tỏ rõ rành rẽ đều được thấy cả. Cánh hoa nhỏ nhất ngang rộng hai trăm năm mươi do tuần, toàn hoa sen ấy có đủ tám vạn bốn ngàn cánh. Khoảng mỗi cánh hoa có trăm ức ma ni châu vương để làm sáng đẹp. Mỗi mỗi châu ma ni vương ấy phóng ra ngàn ánh sáng, ánh sáng ấy như lọng bảy báu hiệp thành che khắp mặt đất. Ðài hoa sen ấy bằng báu thích ca tỳ lăng già, có tám vạn kim cương chân thúc ca bửu, phạm ma ni bửu và lưới diệu chơn châu, dùng để nghiêm sức. Ở trên đài ấy, tự nhiên có bốn trụ bửu tràng, mỗi mỗi bửu tràng cao lớn như trăm ngàn muôn ức núi Tu Di. Trên bửu tràng có màn báu như Dạ Ma Thiên cung, còn có năm trăm ức bửu châu có tám vạn bốn ngàn ánh sáng. Mỗi mỗi ánh sáng làm tám vạn bốn ngàn kim sắc nhiều loại lạ khác nhau. Mỗi mỗi kim sắc khắp cả cõi nước Cực Lạc, nơi nơi biến hóa, đều riêng làm những tướng hình khác lạ: hoặc làm đài kim cương, làm lưới chơn châu, hoặc làm mây nhiều loại hoa, nơi mười phương diện, tùy ý biến hiện ra làm Phật sự.
Ðây là tưởng tòa ngồi hoa sen, gọi là pháp quán thứ bảy.
Này A Nan! Hoa sen vi diệu như vậy là do bổn nguyện lực của pháp Tạng Tỳ Kheo, tiền thân Phật Vô Lượng Thọ cảm thành. Nếu người muốn niệm đức Phật ấy thì phải trước tưởng hoa tòa ấy. Lúc quán tưởng chẳng được tạp quán. Ðều phải quán mỗi mỗi chi tiết, mỗi mỗi cánh hoa, mỗi mỗi bửu châu, mỗi mỗi ánh sáng, mỗi mỗi đài, mỗi mỗi tràng đều phải phân minh, như thấy tượng mặt mình hiện trong gương. Pháp tưởng này thành, diệt trừ trăm muôn ức kiếp tội sanh tử, tất định sẽ sanh Cực Lạc thế giới. Quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán.
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Thấy hoa tòa rồi kế nên tưởng Phật. Tại sao vậy? Vì chư Phật Như Lai là thân pháp giới vào khắp trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, nên lúc các ngươi tâm tưởng Phật, tâm ấy tức là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Chư Phật Chánh Biến Tri hải từ tâm tưởng sanh, vì vậy nên nhứt tâm buộc niệm, quán kỹ đức Phật ấy, đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.
Người muốn tưởng đức Phật ấy trước nên tưởng hình tượng. Thấy một bửu tượng màu như vàng diêm phù đàn ngồi trên hoa tòa kia. Thấy tượng Phật ngồi rồi, tâm nhãn được khai thông, tỏ rõ phân minh thấy quốc độ Cực Lạc thất bửu trang nghiêm, đất báu, ao báu, cây báu bày hàng. Màn lưới báu cõi Trời giăng che phía trên, các màn lưới báu đầy khắp hư không, thấy sự như vậy khiến rất rõ ràng, như thấy trong lòng bàn tay. Thấy sự ấy rồi, lại nên tưởng một hoa sen lớn ở bên tả tượng Phật như trước không khác. Rồi lại tưởng một hoa sen lớn như trước ở bên hữu tượng Phật. Rồi tưởng một tượng Quán Thế Âm Bồ tát ngồi tòa sen bên tả, cũng kim sắc như trước. Rồi tưởng tượng Ðại Thế Chí Bồ tát ngồi hoa sen bên hữu. Lúc pháp tưởng này thành rồi, tượng Phật và tượng Bồ tát đều phóng ánh sáng. Ánh sáng ấy kim sắc chiếu những bửu thọ. Dưới mỗi mỗi bửu thọ đều có ba tòa hoa sen, tượng Phật và hai tượng Bồ tát ngồi trên ấy như vậy khắp cả quốc độ Cực Lạc.
Lúc pháp tưởng này đã thành, hành giả nên nghe nước chảy, ánh sáng, các bửu thọ, những chim cưu, nhạn, uyên ương, đều diễn nói diệu pháp, lúc xuất định, lúc nhập định luôn nghe diệu pháp. Pháp được nghe trong định, lúc xuất định nhớ giữ chẳng bỏ, phải khế hiệp với lời trong Kinh. Nếu chẳng hiệp thì gọi là vọng tưởng. Nếu hiệp thì gọi là thô tưởng thấy Cực Lạc thế giới.
Ðây là tưởng tượng, gọi là pháp quán thứ tám. Quán pháp này trừ được vô lượng ức kiếp tội sanh tử. Nơi thân hiện tại được niệm Phật tam muội”.
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Kế lại, nên quán Phật Vô Lượng Thọ thân tướng quang minh. A Nan phải biết Phật Vô Lượng Thọ thân như trăm ngàn muôn ức sắc vàng diêm phù đàn Trời Dạ Ma, thân Phật cao sáu mươi muôn ức na do tha hằng hà sa do tuần, bạch hào giữa hai mày xoay bên hữu, uyển chuyển như năm tòa núi Tu Di, mắt Phật như bốn đại hải xanh biếc và trắng phân minh. Các lỗ lông nơi thân Phật phóng ánh sáng ra như núi Tu Di. Viên quang của Phật ấy như trăm ức Ðại Thiên thế giới. Trong viên quang ấy có trăm vạn ức na do tha hằng hà sa Hóa Phật. Mỗi mỗi Hóa Phật cũng có đông nhiều vô số Hóa Bồ Tát làm thị giả. Thân Phật Vô Lượng Thọ có tám vạn bốn ngàn tướng. Trong mỗi mỗi tướng đều riêng có tám vạn bốn ngàn tùy hình hảo. Trong mỗi mỗi hình hảo còn có tám vạn bốn ngàn quang minh, mỗi mỗi quang minh chiếu khắp thập phương thế giới, nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật chẳng bỏ sót. Quang minh tướng hảo và Hóa Phật ấy chẳng thể nói đủ hết, chỉ nên nhớ tưởng khiến tâm nhãn được thấy. Thấy sự ấy, liền thấy thập phương chiếu khắp tất cả chư Phật. Vì thấy chư Phật nên gọi là niệm Phật tam muội.
Quán tưởng đây gọi là quán thân tất cả Phật, vì quán thân Phật nên cũng thấy tâm Phật. Phật tâm là đại từ bi tâm, dùng từ vô duyên nhiếp thọ các chúng sanh.
Người tu quán này, bỏ thân, đời khác sanh trước chư Phật được Vô Sanh Nhẫn. Vì vậy nên người trí phải buộc niệm, quán kỹ Vô Lượng Thọ Phật, từ một tướng hảo mà vào, chỉ quán lông trắng giữa hai mày khiến rất tỏ rõ. Ðược thấy lông trắng ấy rồi thì tám vạn bốn ngàn tướng hảo tự nhiên sẽ hiện. Thấy Phật Vô Lượng Thọ, liền thấy vô lượng chư Phật mười phương. Vì thấy vô lượng chư Phật nên được chư Phật hiện tiền thọ ký.
Ðây là khắp quán tưởng tất cả sắc thân Phật gọi là pháp quán thứ chín. Quán như đây gọi là chánh quán, nếu quán khác gọi là tà quán”.
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Ðã thấy Vô Lượng Thọ Phật tỏ rõ phân minh rồi, kế cũng nên quán Quán Thế Âm Bồ Tát.
Bồ Tát này thân cao tám mươi vạn ức na do tha do tuần, thân màu tử kim, đỉnh có nhục kế, cổ có viên quang mỗi phương diện đều trăm ngàn do tuần. Trong viên quang có năm trăm Hóa Phật như Thích Ca Mâu Ni. Mỗi mỗi Hóa Phật có năm trăm Hóa Bồ Tát và vô lượng chư Thiên làm thị giả. Trong ánh sáng toàn thân hiện tất cả sắc tướng của chúng sanh trong ngũ đạo. Trên đỉnh có thiên quang bằng tỳ lăng già ma ni bửu. Trong thiên quang có một Hóa Phật, đứng cao hai mươi lăm do tuần. Mặt của Quán Thế Âm Bồ Tát như màu vàng diêm phù đàn. Lông trắng giữa hai mày đủ màu thất bửu, chiếu ra tám vạn bốn ngàn thứ ánh sáng. Mỗi mỗi ánh sáng có vô lượng vô số trăm ngàn Hóa Phật. Mỗi mỗi Hóa Phật có vô số Hóa Bồ Tát làm thị giả, biến hiện tự tại khắp thập phương thế giới. Cánh tay màu như hoa sen hồng có tám mươi ức ánh sáng vi diệu làm chuỗi đeo. Trong chuỗi đeo, ánh sáng ấy khắp hiện tất cả sự trang nghiêm. Bàn tay màu năm trăm ức hoa sen đẹp. Bàn tay mười đầu ngón, mỗi mỗi đầu ngón có tám vạn bốn ngàn lằn dường như ấn văn. Mỗi mỗi lằn có tám vạn bốn ngàn ánh sáng, ánh sáng ấy mềm dịu chiếu khắp tất cả. Bồ Tát dùng tay báu này tiếp dẫn chúng sanh. Lúc Bồ Tát cất chân lên, dưới lòng bàn chân có tướng thiên bức luân tự nhiên hóa thành năm trăm ức đài quang minh. Lúc để chân xuống, có hoa kim cương ma ni rải rắc tất cả, không chỗ nào là chẳng đầy khắp. Các tướng khác nơi thân Bồ Tát đầy đủ những hình hảo như thân Phật không khác, chỉ có nhục kế trên đỉnh và vô kiến đảnh tướng chẳng bằng Thế Tôn. Ðây là tướng sắc thân chơn thiệt của Quán Thế Âm Bồ Tát, gọi là pháp quán thứ mười. Nếu người muốn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát nên tu quán ấy. Tu quán ấy thì chẳng gặp các tai họa, trừ sạch nghiệp chướng, trừ tội sanh tử trong vô số kiếp.
Quán Thế Âm Bồ Tát ấy chỉ nghe danh hiệu còn được phước vô lượng huống là quán kỹ. Nếu người muốn Quán Thế Âm Bồ Tát thì trước quán nhục kế, sau quán thiên quang. Các tướng khác cũng theo thứ tự mà quán kỹ, đều phải tỏ rõ như nhìn trong bàn tay. Quán như đây gọi là chán quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán.
Kế đó quán Ðại Thế Chí Bồ Tát. Bồ Tát này thân lượng lớn nhỏ đều đồng như Quán Thế Âm Bồ Tát. Viên Quang mỗi mặt đều một trăm hai mươi lăm do tuần, chiếu hai trăm năm mươi do tuần. Ánh sáng toàn thân chiếu toàn thân quốc độ màu tử kim. Chúng sanh có duyên thảy đều được thấy. Chỉ thấy ánh sáng một lỗ lông của Bồ Tát này liền thấy quang minh tịnh diệu vô lượng chư Phật mười phương, vì vậy nên đặt hiệu Bồ Tát này là Vô Biên Quang. Dùng ánh sáng trí huệ chiếu khắp tất cả, khiến lìa tam đồ được vô thượng lực nên Bồ Tát nầy có tên là Ðại Thế Chí.
Thiên Quang của Ðại Thế Chí Bồ Tát có năm trăm hoa báu, mỗi mỗi hoa báu có năm trăm đài báu, trong mỗi mỗi đài, tướng dài ngắn của quốc độ thanh tịnh vi diệu chư Phật mười phương đều hiện rõ. Nhục kế trên dỉnh như hoa bát đầu ma, trên nhục kế có một bình báu đựng các ánh sáng khắp hiện Phật sự. Các thân tướng khác như Quán Thế Âm không khác.
Lúc Ðại Thế Chí Bồ Tát đi, thập phương thế giới tất cả chấn động. Ðương lúc bất động có năm trăm ức hoa báu, mỗi mỗi hoa báu trang nghiêm cao rõ như Cực Lạc thế giới. Lúc Bồ Tát này ngồi, quốc độ thất bửu đồng thời dao động. Từ Hạ phương Kim Quang Phật thế giới nhẫn đến Thượng phương Quang Minh Vương Phật thế giới, trong khoảng giữa ấy, vô lượng vô số phân thân Vô Lượng Thọ Phật, phân thân Quán Thế Âm Bồ Tát, phân thân Ðại Thế Chí Bồ Tát, thảy đều vân tập Cực Lạc thế giới, chật đầy hư không, ngồi tòa liên hoa, diễn nói diệu pháp độ khổ chúng sanh. Tu pháp quán này gọi là quán thấy Ðại Thế Chí Bồ Tát. Ðây là quán thấy tướng sắc thân thiệt Ðai Thế Chí, gọi là pháp quán thứ mười một. Quán Ðại Thế Chí Bồ Tát trừ vô số kiếp vô số tội sanh tử. Người tu quán này chẳng còn ở bào thai, thường du hành quốc độ thanh tịnh vi diệu chư Phật.
Pháp quán này thành rồi, gọi là đầy đủ quán Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát.
Lúc thấy sự ấy rồi, nên khởi tự tâm sanh nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong hoa sen ngồi kiết già, tưởng hoa sen búp lại, tưởng hoa sen nở ra. Lúc hoa sen nở có ánh sáng năm trăm màu chiếu đến thân. Tưởng mắt mở ra thấy Phật và Bồ Tát đầy cả hư không, nước, chim, cây, rừng, cùng chư Phật phát ra âm thanh đều diễn nói diệu pháp hiệp với mười hai bộ Kinh. Lúc xuất định nhớ giữ không mất. Thấy sự này rồi, gọi là thấy Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới. Ðây là phổ quán tưởng gọi là pháp quán thứ mười hai. Vô Lượng Thọ Phật hóa thân vô số, cùng Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát thường đến chỗ hành nhơn ấy”.
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Người muốn chí tâm sanh Cực Lạc thế giới, trước nên quán tượng Phật Vô Lượng Thọ cao một trượng sáu xích ở trên mặt nước ao báu.
Như trước đã nói, Vô Lượng Thọ Phật thân lượng vô biên chẳng phải tâm lực của phàm phu kịp được. Nhưng do nguyện lực đời trước của đức Như Lai ấy, nên ai có tâm nhớ tưởng thì ắt được thành tựu. Chỉ tưởng tượng Phật, được phước vô lượng, huống là quán đủ thân tướng của Phật.
A Di Ðà Phật thần thông như ý, nơi mười phương quốc độ biến hiện tự tại. Hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không, hoặc hiện thân nhỏ một trượng sáu xích, hoặc là tám xích. Thân hình Phật hiện ra đều màu chơn kim, viên quang Hóa Phật và hoa sen báu như đã nói ở trên. Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ tát ở tất cả xứ, thân đồng với chúng sanh. Chỉ quán tưởng trên đầu, biết là Quán Thế Âm hay Ðại Thế Chí. Hai đại Bồ Tát ấy trợ Phật A Di Ðà khắp hóa độ tất cả. Ðây là tạp tưởng quán gọi là quán thứ mười ba.”
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Người sanh Cực Lạc thế giới, bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh ấy. Nếu có chúng sanh nguyện sanh Cực Lạc thế giới phát ba thứ tâm liền được vãng sanh. Những gì là ba tâm?
Một là chí thành tâm, hai là thâm tâm và ba là hồi hướng phát nguyện tâm. Người đủ ba tâm này ắt sanh Cực Lạc thế giới.
Còn có ba hạng chúng sanh sẽ được vãng sanh. Những gì là ba hạng?
Một là từ tâm bất sát, đủ các giới hạnh. Hai là đọc tụng kinh điển Phương Ðẳng Ðại Thừa. Ba là tu hành Lục Niệm, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh Cực Lạc.
Người đủ các công đức này từ một ngày đến bảy ngày liền được vãng sanh. Lúc sanh về nước ấy, vì người này tinh tiến dũng mãnh, nên A Di Ðà Như Lai cùng Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí, vô số Hóa Phật, trăm ngàn Tỳ Kheo Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư Thiên, cung điện bảy báu. Quán Thế Âm Bồ tát cầm đài kim cương cùng Ðại Thế Chí Bồ tát đến trước hành nhơn. A Di Ðà Phật phóng đại quang minh chiếu thân hành giả, cùng các Bồ Tát trao tay nghinh tiếp. Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí, cùng vô số Bồ Tát, tán thán hành giả, khuyến khích, sách tiến tâm hành giả. Hành giả thấy rồi, hoan hỉ dũng dước, tự thấy thân mình ngồi đài kim cương, đi theo sau Phật. Như khoảng khảy ngón tay, vãng sanh nước Cực Lạc. Sanh nước Cực Lạc rồi, thấy sắc thân Phật A Di Ðà đầy đủ các tướng. Thấy chư Bồ Tát sắc tướng đầy đủ. Quang minh cây rừng báu diễn nói diệu pháp. Nghe rồi liền ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn. Trong thời gian giây lát, đi khắp thập phương thế giới kính thờ chư Phật. Ở trước chư Phật thứ đệ thọ ký. Trở về bổn quốc được vô lượng trăm ngàn môn đà la ni. Ðây gọi là người Thượng Phẩm Thượng Sanh.
Người Thượng Phẩm Trung Sanh ấy, người này bất tất thọ trì đọc tụng Kinh điển Phương Ðẳng Ðại Thừa, chỉ khéo hiểu nghĩa thú, nơi Ðệ Nhứt nghĩa tâm chẳng kinh động, thâm tín nhơn quả, chẳng hủy báng Ðại Thừa. Ðem công đức ấy hồi hướng, nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới. Người có công hạnh như vậy, lúc lâm chung, A Di Ðà Phật cùng Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí, vô lượng đại chúng vây quanh, cầm đài tử kim đến trước hành giả, khen rằng: Nầy Pháp tử! Ngươi hành Ðại Thừa, hiểu Ðệ Nhất Nghĩa, nên nay ta đến nghinh tiếp ngươi. Ðức Phật A Di Ðà cùng ngàn Hóa Phật đồng thời trao tay. Hành giả ấy tự thấy mình ngồi đài kim tử, chắp tay xếp cánh tán thán chư Phật. Như khoảng một niệm, liền sanh Cực Lạc trong ao thất bửu. Ðài kim tử ấy như hoa sen lớn qua một đêm liền nở. Thân hành giả màu vàng tử ma, dưới chân cũng có hoa sen bảy báu.
Phật và Bồ Tát đồng thời phóng quang chiếu thân hành giả mắt liền mở sáng. Nhơn túc tập trước, nên khắp nghe các âm thanh thuần nói thậm thâm Ðệ Nhất Nghĩa Ðế. Hành giả ấy liền xuống kim đài lạy Phật, chắp tay tán thán Thế Tôn, qua bảy ngày liền được chẳng thối chuyển Vô Thượng Bồ Ðề, liền có thể bay đi đến khắp mười phương kính thờ chư Phật, ở trước chư Phật tu các tam muội, qua một tiểu kiếp được Vô Sanh Nhẫn, hiện tiền thọ ký. Ðây gọi là người Thượng Phẩm Trung Sanh vậy.
Người Thượng Phẩm Hạ sanh ấy. Người này cũng tin nhơn quả, chẳng hủy báng Ðại Thừa, chỉ phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề. Ðem công đức ấy hồi hướng, nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới.
Hành giả ấy lúc lâm chung, A Di Ðà Phật cùng Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí và chư Bồ Tát cầm hoa sen vàng, hóa làm năm trăm Phật đến rước. Năm trăm hóa Phật đồng thời trao tay khen rằng: Này Pháp tử, nay ngươi thanh tịnh phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề, ta đến rước ngươi. Hành giả lúc thấy sự ấy, liền tự thấy thân mình ngồi kim liên hoa. Ngồi rồi, hoa búp lại, theo sau Phật, liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới trong ao thất bửu. Qua một ngày một đêm kim liên hoa mới nở. Qua bảy ngày mới được thấy Phật. Dầu thấy thân Phật mà chẳng thấy tỏ rõ các tướng hảo. Sau hai mươi mốt ngày mới thấy rõ hết. Nghe các âm thanh đều diễn diệu pháp, đi khắp mười phương cúng dường chư Phật. Ở trước chư Phật nghe thậm thâm pháp. Qua ba tiểu kiếp, được bá pháp minh môn, trụ bực Hoan Hỉ Ðịa. Ðây gọi là người Thượng Phẩm Hạ Sanh vậy.
Ðây gọi là pháp tưởng hàng Thượng Phẩm vãng sanh, gọi là pháp quán thứ mười bốn”
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Người Trung Phẩm Thượng Sanh ấy. Nếu có chúng sanh thọ trì ngũ giới, trì bát giới trai, tu hành các giới, chẳng tạo ngũ nghịch, không có các tội lỗi. Ðem thiện căn này nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới. Hành giả lúc lâm chung, A Di Ðà Phật cùng các Tỳ kheo quyến thuộc vây quanh, phóng ánh sáng kim sắc đến chỗ hành giả, diễn nói khổ, không, vô thường, vô ngã, tán thán xuất gia được lìa các sự khổ. Hành giả thấy rồi lòng rất vui mừng, tự thấy thân mình ngồi đài liên hoa, quỳ dài chắp tay đảnh lễ Phật, lúc chưa cất đầu lên liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới, liên hoa liền nở. Lúc hoa sen nở, nghe các âm thanh tán thán Tứ Ðế, liền được A La Hán đạo, Tam Minh, Lục Thông, đủ Bát giải thoát. Ðây gọi là người Trung Phẩm Thượng Sanh vậy.
Người Trung Phẩm Trung Sanh ấy. Nếu có chúng sanh hoặc một ngày đêm trì bát giới trai, hoặc một ngày một đêm trì giới Sa di, hoặc một ngày một đêm trì Cụ Túc giới, oai nghi không kém thiếu. Ðem công đức này hồi hướng, nguyện sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Do giới hương huân tu, hành giả này lúc lâm chung thấy A Di Ðà Phật cùng các quyến thuộc phóng kim sắc quang, cầm bửu liên hoa đến trước hành giả. Hành giả tự nghe hư không có tiếng khen rằng: Này Thiện Nam tử, như ngươi, hàng thiện nhơn, tùy thuận lời dạy tam thế chư Phật nên ta đến rước. Hành giả tự thấy thân mình ngồi trên hoa sen, hoa sen liền búp lại, sanh trong ao báu Tây Phương Cực Lạc thế giới. Qua bảy ngày liên hoa mới nở. Hoa nở rồi, mở mắt chắp tay tán thán Thế Tôn, nghe pháp hoan hỉ được quả Tu Ðà Hoàn. Qua nửa kiếp thành bực A La Hán. Ðây gọi là người Trung Phẩm Trung Sanh vậy.
Người Trung Phẩm Hạ Sanh ấy. Nếu có thiện nam, thiện nữ hiếu dưỡng cha mẹ, làm việc nhơn từ thế gian. Người này lúc lâm chung, gặp thiện tri thức vì họ mà nói rộng những sự vui nơi quốc độ Phật A Di Ðà, cùng nói bốn mươi tám nguyện của Pháp Tạng Tỳ Kheo, nghe rồi liền chết. Ví như khoảng thời gian tráng sĩ co duỗi chân tay, liền được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Qua bảy ngày, gặp Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí Bồ Tát, nghe pháp hoan hỉ được quả Tu Ðà Hoàn. Qua một tiểu kiếp thành A La Hán. Ðây gọi là người Trung Phẩm Hạ Sanh vậy.”
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Người Hạ Phẩm Thượng Sanh ấy. Hoặc có chúng sanh tạo những nghiệp ác. Người ngu như vậy, dầu chẳng hủy báng Kinh điển Phương Ðẳng Ðại Thừa, mà tạo nhiều việc ác, không có tàm quí. Người này lúc lâm chung, gặp thiện tri thức vì họ mà nói mười hai bộ Kinh Ðại Thừa danh tự đầu đề. Do nghe tên các Kinh như vậy, dứt trừ ngàn kiếp ác nghiệp cực trọng. Trí giả lại bảo chắp tay xếp cánh, xưng Nam Mô A Di Ðà Phật. Do xưng danh hiệu Phật nên trừ năm mươi ức kiếp tội sanh tử. Lúc ấy Phật A Di Ðà liền sai Hóa Phật, hóa Quán Thế Âm, hóa Ðại Thế Chí đến trước hành giả, khen rằng: Nầy thiện nam tử ! Vì ngươi xưng danh hiệu Phật, các tội tiêu diệt, ta đến rước ngươi. Nghe lời nói ấy rồi, hành giả liền thấy quang minh của Hóa Phật chiếu sáng cả nhà. Thấy rồi hoan hỉ mạng chung, ngồi bửu liên hoa theo sau Hóa Phật, sanh trong ao báu Cực Lạc thế giới . Qua bốn mươi chín ngày hoa sen mới nờ. Ðương lúc hoa nở, Ðại bi Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát phóng đại quang minh đứng trước người ấy, vì người ấy nói thậm thâm nhị bộ Kinh. Người ấy nghe rồi tin hiểu phát Vô Thượng đạo tâm. Qua mười tiểu kiếp, đủ bá pháp minh môn, được nhập bậc Sơ Ðịa. Ðây gọi là người Hạ Phẩm Thượng Sanh vậy”.
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Người Hạ Phẩm Trung Sanh ấy. Hoặc có chúng sanh hủy phạm ngũ giới, bát giới và cụ túc giới. Người ngu này trộm của vật Tăng kỳ, trộm của vật hiện tiền Tăng, bất tịnh thuyết pháp, không có tàm quí, dùng các ác nghiệp để tự trang nghiêm. Người tội như đây do nghiệp ác phải đọa địa ngục đồng thời hiện đến. Gặp thiện tri thức, vì lòng đại từ bi, vì người ấy mà khen nói Thập Lực oai đức của đức Phật A Di Ðà, rộng khen quang minh thần lực của đức Phật A Di Ðà, cũng tán dương Giới, Ðịnh, Huệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến. Người ấy nghe rồi trừ tám mươi ức kiếp tội sanh tử. Lửa mạnh địa ngục biến thành gió mát, thổi các thiên hoa bay đến. Trên hoa đều có Hóa Phật, Hóa Bồ Tát tiếp rước người ấy. Trong khoảng một niệm liền sanh trong hoa sen nơi ao báu Cực Lạc thế giới. Qua sáu kiếp hoa sen mới nở. Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát dùng phạm âm thanh an úy người ấy, vì người ấy mà nói Kinh điển Ðại Thừa thậm thâm. Nghe pháp rồi, người ấy liền phát tâm Vô Thượng Ðạo. Ðây gọi là người Hạ Phẩm Trung Sanh vậy”.
Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: “Người Hạ Phẩm Hạ Sanh ấy. Hoặc có chúng sanh tạo nghiệp bất thiện ngũ nghịch, thập ác, đủ các bất thiện. Người ngu như vậy, do các ác nghiệp phải đọa ác đạo, trải qua nhiều kiếp thọ khổ vô cùng. Người ngu ấy, lúc lâm chung, gặp thiện tri thức dùng nhiều lời an ủi, vì nói diệu pháp dạy bảo niệm Phật. Người ấy bị khổ bức không rảnh niệm được. Thiện hữu bảo rằng nếu người chẳng phải niệm Phật kia được, thì ngươi xưng danh hiệu Phật A Di Ðà, như vậy chí tâm khiến tiếng xưng danh chẳng dứt đủ mười niệm. Nên xưng như vầy: Nam Mô A Di Ðà Phật. Do xưng danh hiệu Phật, nên trong mỗi niệm trừ tám mươi ức kiếp tội sanh tử. Lúc mạng chung, thấy kim liên hoa dường như mặt nhựt trụ trước người ấy. Như khoảng một niệm, liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới, ở trong hoa sen mãn mười hai đại kiếp hoa sen ấy mới nở. Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát dùng âm thanh đại bi vì người ấy diễn nói thiệt tướng các pháp, nói pháp trừ diệt tội. Người ấy nghe pháp rồi, rất vui mừng liền phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề. Ðây gọi là người Hạ Phẩm Hạ Sanh vậy”.
Quốc Thái phu nhơn Vi Ðề Hi cùng năm trăm thị nữ nghe lời đức Phật nói về mười sáu pháp quán ấy, liền lúc đó thấy tướng rộng lớn Cực Lạc thế giới. Ðược thấy sắc thân Phật A Di Ðà và hai Bồ Tát Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí, lòng rất hoan hỷ khen chưa từng có. Vi Ðề Hi hoát nhiên đại ngộ được Vô Sanh Nhẫn. Năm trăm thị nữ phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề nguyện sanh Cực Lạc thế giới. Ðức Thế Tôn thọ ký đều sẽ vãng sanh. Sanh nước Cực Lạc rồi được chư Phật hiện tiền tam muội. Còn có vô lượng chư Thiên phát tâm Vô Thượng Ðạo.
Lúc bấy giờ Tôn giả A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Kinh này sẽ gọi là tên gì? Pháp yếu này sẽ thọ trì như thế nào?”.
Ðức Phật nói: “Này A Nan! Kinh này tên là Quán Cực Lạc Quốc Ðộ Vô Lượng Thọ Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí Bồ Tát. Cũng có tên là Tịnh Trừ Nghiệp Chướng Sanh Chư Phật Tiền.
Ông nên thọ trì như vậy chớ để quên mất. Người hành tam muội này thì thân hiện đời được thấy Vô Lượng Thọ Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát.
Nếu thiện nam, thiện nữ chỉ nghe danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát thì trừ vô lượng kiếp tội sanh tử, huống là nhớ niệm.
Nếu là người niệm Phật, nên biết người ấy là hoa phân đà lợi trong loài người. Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí Bồ Tát là thắng hữu của người ấy. Người ấy sẽ ngồi đạo tràng sanh vào nhà chư Phật”.
Ðức Phật bảo Tôn giả A Nan: “Này A Nan! Ngươi phải trì lời này cho tốt. Người trì lời này tức là trì danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật”.
Phật nói Kinh này rồi, Tôn giả Mục Kiền Liên, Tôn giả A Nan và Vi Ðề Hi, cùng thị nữ quyến thuộc, nghe lời đức Phật dạy tất cả đều rất vui mừng.
Bấy giờ đức Thế Tôn chân đi trên hư không trở về núi Kỳ Xà Quật. Tôn giả A Nan vì đại chúng nói rộng sự ấy. Vô Lượng chư Thiên Long Bát Bộ, nghe lời Phật nói đều rất vui mừng lạy Phật lui ra.
Dịch Việt: HT. Thích Trí Tịnh
Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ Sao
Lời Tựa
Bản hoài ra đời của Đức Phật, là muốn cho tất cả chúng sanh thoát ly biển trầm luân, bước lên bờ diệu giác, được hưởng sự an vui giải thoát như Ngài. Nhưng bởi chúng sanh có nhiều bệnh, nên Phật Pháp cũng có nhiều phương, mà tổng yếu không ngoài hai môn: Tự Lực và Tha Lực. Tự lực là môn phổ thông, Tha lực là môn đặc biệt vì do nhờ sức Phật nhiếp trì tiếp dẫn, nên dù hoặc nghiệp chưa tiêu cũng được bước ngay lên hàng bất thối.
Tịnh Độ Giáo chính là pháp môn tha lực rất hợp thời cơ, và có lợi ích cho nhân loại giữa thời mạt pháp này. Nhưng vì bản môn tuy dễ tu dễ chứng, song cũng khó nói khó tin, nên người học Phật chưa thâm, hoặc thiếu tín căn về tịnh độ, thường hiểu lầm cho là pháp thí dụ, hay nếu có giải thích thì cũng lạc vào tà chấp của thiên không. Để đánh tan mối tệ sai lầm ấy và đem lại sự lợi ích cho người tu, bút giả duyệt trong đại tạng, dung hội và trích yếu phần chú sớ của các Ngài Thiên Thai, Thiện Đạo, Nguyên Chiếu, mà ghi lại lời giải thích bổn kinh Quán Vô Lượng Thọ này. Xin nhấn rõ, trong đây toàn lời sớ giải của ba vị tổ sư trên, bút giả chỉ là người sưu tập và ghi chép mà thôi. Việc làm này không ngoài chủ ý muốn giữ lòng tin cho người học Phật và để biện minh rằng chư cổ đức đều công nhận cõi Cực Lạc có thật, đã giải thích về tịnh độ với luận cú sự lý viên dung, chớ không như một ít kẻ nông cạn, chỉ y theo thiên kiến sai lạc của mình rồi lý thuyết hóa cõi Cực Lạc đâu, xin mượn lời ngài Nguyên Chiếu mà tự trần thuật rằng:
An Dưỡng sạch vui, câu hội người lành bậc thánh. Ta Bà nhơ khổ, luân hồi sáu nẻo ba đường! Thế thì chốn gai bùn thai ngục, nên gắng chí để xa lìa; nơi báu đẹp kim trì, phải đem tâm mà nguyện đến. Giọng triều âm khen ngợi, đã thấy khắp kinh văn. Những tịnh chúng sanh về, hãy còn ghi sử sách. Chỉ có trí người hôn muội, hết nghi bán, lại suy lầm. Khiến nỗi lòng Phật từ bi, chút bản hoài hằng khó tỏ! Thôi thì, ai người tín hướng nên quyết chí phụng hành, nào kẻ hữu duyên hãy gắng tu chánh trợ. Hoặc xưng danh quán tưởng, trì chú, tụng kinh; hoặc giữ giới tu trai, sám hối, bố thí. Nếu quả Tâm chuyên gắng, mới hay duyên phước muôn ngàn. Và chư niệm nối nhau sẽ thấy an vui không tận.
Riêng mình từ trước, đã mến tịnh tông. Đang lo muôn kiếp nghiệp phù binh, bỗng găp môn lành thuyền tế độ. Nỗi thương nỗi cảm, trông vời khổ hải luống than thầm. Thoạt tủi thoạt mừng, mới biết dư sanh còn chỗ tựa! Do đó tham tầm kinh tạng, khảo hội sớ văn, lấy yếu bỏ phiền, ghi lời chú giải. Thuật mà chẳng tác, dám đâu trái với cổ ngôn. Trọng ý quên lời, xin thể theo gương chỉ nguyệt, tấc lòng trân kính dâng bạn đồng tu.
Liên Du
Kinh Vô Lượng Thọ – Quyển Thượng
Kinh Vô Lượng Thọ – Quyển Thượng
Hán dịch: Pháp Sư Khang Tăng Khải
Tôi nghe như vầy: Một thời, Ðức Phật trụ trong núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, cùng với một vạn hai ngàn vị Ðại Tỳ Kheo. Những vị đó đều là bậc Ðại Thánh đã đạt được phép thần thông. Các vị ấy tên là: Tôn giả Liễu Bản Tế, Tôn giả Chính Nguyện, Tôn giả Chính Ngữ, Tôn giả Ðại Hiệu, Tôn giả Nhân Hiền, Tôn giả Ly Cấu, Tôn giả Danh Văn, Tôn giả Thiện Thật, Tôn giả Cụ Túc, Tôn giả Ngưu Vương, Tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Tôn giả Già Da Ca Diếp, Tôn giả Na Ðề Ca Diếp, Tôn giả Ma Ha Ca Diếp, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên, Tôn giả Kiếp Tân Na, Tôn giả Ðại Trụ, Tôn giả Ðại Tịnh Chí, Tôn giả Ma Ha Chu Na, Tôn giả Mãn Nguyện Tử, Tôn giả Ly Chướng, Tôn giả Lưu Quán, Tôn giả Kiên Phục, Tôn giả Diện Vương, Tôn giả Dị Thừa, Tôn giả Nhân Tính, Tôn giả Gia Lạc, Tôn giả Thiện Lai, Tôn giả La Vân, Tôn giả A Nan. Các vị trên đây đều là những bậc Thượng thủ.
Lại cùng với các chúng Ðại thặng Bồ Tát trong kiếp hiện tại là: Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Ðức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát. Lại có mười sáu vị chính sĩ thuộc nhóm tại gia Bồ Tát là: Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Tuệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Tuệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Tuệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, tất cả đều tuân theo giới đức của Ngài Ðại Sĩ Phổ Hiền.
Ðức Phật có vô lượng hạnh nguyện của các Bồ Tát, an trụ vào các pháp, công đức trọn đầy, rồi dạo bước khắp mười phương, tùy theo phương tiện cứu độ chúng sanh, khiến cho tất cả qua khỏi đường sinh tử, vào được Pháp tạng của chư Phật.
Lại nguyện ở trong vô lượng thế giới hiện thành Phật quả. Bấy giờ, Ngài ở cung Trời Ðâu Suất, vì muốn nói rộng chính pháp, nên từ cung Trời ấy, giáng thần vào thai mẹ. Từ nách bên phải sinh ra, rồi đứng dậy hiện ra đi bảy bước; hào quang rực rỡ chiếu khắp mười phương, vô lượng cõi Phật, chấn động sáu cách. Trong giờ phút thiêng liêng này, một tay chỉ lên Trời, một tay chỉ xuống đất, Ngài cất tiếng tự xưng rằng: “Ta sẽ là Phật trên hết trong đời”. Lúc ấy, hai vị Vua Ðế Thích và Phạm Thiên đến hầu, khiến cả Trời và Người đều cung kính tin theo.
Ngài lại hiện ra học đủ các nghề: thi văn, lý, toán, bắn cung, cỡi ngựa; tập rộng thêm các môn võ thuật, đọc hết những pho sách sử. Có lần Ngài ung dung dạo bước vườn sau, diễn võ thi tài.
Ngài lại biến hiện ra cung điện cực kỳ lộng lẫy, trong đó có sắc đẹp diễm kiều, cùng cao lương mỹ vị. Lại một hôm, Ngài ra chơi ngoại thành, nhìn thấy người già, người bệnh, người chết; nhìn thấy cảnh tượng đó, Ngài nhận biết được cõi đời là vô thường, nên quyết lìa ngôi báu, thần dân, quyến thuộc, tiền của, quyền quý cao sang, vào núi học đạo. Ngài cởi bỏ áo ngọc mũ châu quý báu, mặc áo nhà tu, cạo bỏ râu tóc, ngồi dưới gốc cây, siêng tu khổ hạnh, suốt sáu năm trường, y theo chính đạo, thực hành thiện pháp. Ngài lại hiện ra trong cõi đời ngũ trọc, thuận theo chúng sinh, cấu trần ô nhiễm tắm gội ở sông Ni Liên. Bấy giờ, Chư Thiên giữ cành cây, Ngài vin lấy cành mà ra khỏi ao, liền có loài chim thiêng theo hầu Ngài tới nơi Ðạo tràng. Ðiềm lành cảm nghiệm, nêu rõ công phúc, thương nhận cỏ cúng dường, trải dưới cây Bồ Ðề, ngồi xếp hai bàn chân lên đùi, nhập Thiền định, phóng ra hào quang sáng lớn, khiến Ma vương biết được, chúng liền kéo cả họ hàng, bè lũ đến mà thử thách tâm ý của Ngài. Ngài dùng trí lực giải trị, khiến chúng phải kinh sợ hàng phục. Chính nơi cội Bồ Ðề Ðạo Tràng, Ngài chứng ngộ thành Bậc Ðại Giác.
Bấy giờ, Vua Ðế Thích và Phạm Vương thỉnh cầu Ngài chuyển Pháp luân. Ngài chấp nhận rồi rời Ðạo Tràng, du phương thuyết Pháp, đánh trống Pháp, thổi loa Pháp, cầm gươm Pháp, dựng cờ Pháp, dậy sấm Pháp, lóe chớp Pháp, tưới mưa Pháp, nói thí Pháp và thường đem tiếng Pháp cảnh tỉnh thế gian. Ngài phóng hào quang soi khắp vô lượng cõi Phật. Tất cả các thế giới chấn động sáu cách, thâu tóm cả cõi ma, làm rung động cung điện của ma vương, khiến chúng ma vương sợ hãi, đều quy phục cả. Ngài xé rách các lưới tà, tiêu diệt mọi thành kiến, đánh tan những phiền não, lấp đầy mọi vực sâu ái dục, gạn sạch tâm ý, giữ trọn Pháp thân, khai nguồn trí tuệ, rửa sạch tâm nhơ xấu, làm sáng đức thanh tịnh, truyền bá chính giáo, hóa độ chúng sinh, khiến tất cả đều được thấm nhuần công đức, phước báu lợi lạc.
Ngài lại đem pháp dược mầu nhiệm, cứu chữa ba nỗi khổ của chúng sinh: một là làm việc cực nhọc sinh khổ, hai là hết vui đến buồn sinh khổ, ba là các pháp vô thường sinh khổ. Ngài lại hiển hiện vô lượng công đức, thụ ký cho các Bồ Tát thành bậc Chính Ðẳng Chính Giác. Lại hiện ra cảnh giới sinh tử, hầu cứu chúng sinh diệt trừ phiền não, vun trồng cội phúc, trọn đủ công đức, mầu nhiệm vô cùng.
Ngài lại đến các nước Phật, hiển bày giáo pháp bằng các việc đã tu hành, trong sạch không nhơ nhuốm. Ví như nhà huyễn thuật đã học tập thông suốt, rồi tùy theo ý muốn, hiện ra các tướng lạ như: Hiện làm đàn ông, hiện làm đàn bà v.v… không gì không hiện được.
Các vị Bồ Tát ở đây cũng giống như thế, các Ngài học hết các Pháp, quán thông Kinh điển, thâu tóm sự lý, xét cùng nghĩa nhiệm, thấy biết xác thực. Rồi ở trong vô số cõi Phật đều hiện ra trọn đủ các Pháp như thế, chỉ dẫn cho mười phương chúng sinh, vô lượng chúng sinh đều cùng hộ niệm. Cảnh giới chư Phật an trụ, Bồ Tát đều trụ trong đó; Ðại Thánh tọa nơi nào, đều có Bồ Tát tọa nơi đó. Giáo pháp của Ðức Như Lai thuyết giảng Bồ Tát đều tuyên dương một cách rốt ráo, là bậc Ðại sư cho các hàng Bồ Tát, các Ngài đem Thiền định, trí tuệ thâm diệu chỉ bày cho chúng sinh đời mạt pháp thông hiểu các pháp tính, thấy rõ các pháp tướng và thấu suốt các cõi để cúng dường chư Phật. Lại hóa hiện thân hình lẹ như chớp nhoáng, biến hiện lưới vô úy, hiểu suốt mọi pháp huyễn hóa, xé rách lưới ma, cởi mọi ràng buộc; vượt qua địa vị Thanh Văn, Duyên Giác, được phép tam muội: Không, vô tướng, vô nguyện. Các Ngài khéo lập phương tiện, chỉ rõ ba thừa: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Sau khi giáo hóa đã xong, không còn sở hữu, các Ngài lại hiện ra có sinh tử, chứ thực ra các pháp cũng không vật gì thấy có, chẳng sinh, chẳng diệt, tất cả đều bình đẳng, thành diệu pháp vô lượng tổng trì bách thiên tam muội. Các căn trí tuệ, yên lặng vô cùng, vào sâu tới Pháp tạng của Bồ Tát, được Pháp Hoa Nghiêm tam muội của Phật, tuyên dương giảng nghĩa hết thảy Kinh điển mà vẫn trụ vào phép định sâu xa mầu nhiệm, thấy tất cả chư Phật hiện tại, trong một giây phút hiện ra khắp nơi, cứu giúp muôn loài, chịu nhiều khổ não, phân biệt chỉ rõ chân thật, được trí biện tài của các Ðức Như Lai, rồi thể nhập tiếng nói của chúng sinh, khai hóa cho hết thảy, vượt qua các pháp sở hữu của thế gian, kiên tâm giữ đạo cứu đời. Ðối với hết thảy chúng sinh, các Ngài tùy ý tự tại, lấy việc cứu giúp chúng sinh làm trách nhiệm nặng nề, giữ gìn Pháp tạng của chư Phật, khiến cho thường còn chẳng mất. Lại khởi lòng đại bi thương xót chúng sinh, diễn lời đại từ, trao con mắt Pháp, ngăn ba chốn dữ, mở cửa Bồ Ðế, lại đem pháp không ai cầu thỉnh mà thí hóa cho chúng dân như người con trọn hiếu, kính thương cha mẹ, đối với chúng sinh như đối với chính mình. Các Ngài đã gây mọi nhân lành, qua khỏi đường sinh tử, được vô lượng công đức của chư Phật. Trí tuệ sáng suốt của các Ngài cũng không thể nghĩ bàn. Các vị Bồ Tát, Ðại sĩ như thế, không thể kể sao cho xiết, cùng một lúc tới dự hội.
Bấy giờ, Ðức Thế Tôn thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng. Tôn giả A Nan thấy vậy, liền từ tòa ngồi đứng dậy, trễ vai áo bên phải, quỳ gối chấp tay, bạch Phật rằng:
“Bạch Ðức Thế Tôn! Hôm nay Ðức Thế Tôn thân căn vui đẹp, thân tướng nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng, như tấm gương trong sạch, sáng suốt trong ngoài, oai dũng rõ rệt, tướng tốt tuyệt vời, chưa từng thấy có. Kính bạch Ðức Ðại Thánh! Lòng con nghĩ rằng: Hôm nay có lẽ Ðức Thế Tôn trụ vào nơi pháp kỳ diệu! Hôm nay Ðức Thế Hùng trụ vào chốn chư Phật trụ! Hôm nay Ðức Thế Nhãn trụ vào hạnh của Ðấng Ðạo Sư! Hôm nay Ðức Thế Anh trụ vào Ðạo Tối Thắng! Hôm nay Ðức Thiên Tôn hành theo đức của Ðức Như Lai! Chư Phật ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai đã cùng một ý nghĩ độ sinh. Phải chăng hôm nay Ðức Như Lai đang tư duy như chư Phật tư duy chăng? Vì sao oai thần của Ngài chói sáng như vậy?”
Bấy giờ, Ðức Thế Tôn bảo Ngài A Nan rằng: A Nan! Có phải chư Thiên nhờ ông đến hỏi ta hay tự ông khởi ý hỏi việc đó?
A Nan bạch Phật rằng: Bạch Ðấng Ðại Bi Thế Tôn! Không phải chư Thiên đến nhờ con, chính tự bản thân con thấy biết mà hỏi việc đó.
Phật dạy rằng: “Hay thay! Hay thay! A Nan, những điều ông hỏi thật là sâu xa! Như Lai đem lòng đại bi vô tận, thương xót chúng sinh trong ba cõi, nên mới thị hiện ra đời, khai sáng đạo giáo, để cứu vớt quần sinh, khiến cho họ được nhiều lợi ích chân thật. Như Lai vô lượng ức kiếp khó gặp, khó thấy, cũng như hoa Ưu Ðàm trải qua bao kiếp mới trổ một lần. Nay những điều ông hỏi có lợi ích khai hóa cho tất cả chư Thiên, nhân loại. A Nan! Nên biết, Như Lai là bậc Chính Giác, trí tuệ không thể suy lường thường khuyên dẫn và chế ngự tâm người, không gì ngăn ngại. Như Lai dùng sức một bữa ăn mà thọ mệnh được trăm ngàn vạn kiếp, vô số vô lượng còn hơn ở đây nhiều. Lại nữa, Như Lai thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, khuôn mặt hồng sáng. Vì sao vậy? Vì Thiền định, trí tuệ của Như Lai sáng suốt vô cùng, tất cả các Pháp, Như Lai đều được viên dung vô ngại.
A Nan, hãy nghe cho kỹ, bây giờ ta nói cho ông nghe.
“A Nan bạch rằng: Vâng, con mong muốn được nghe”.
Ðức Phật bảo A Nan rằng: “Về đời xưa kia, cách nay rất lâu xa, không thể tính bàn được là bao nhiêu kiếp, có Ðức Ðĩnh Quang Như Lai thị hiện ra đời, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sinh đều được đạo quả, rồi Ngài mới diệt độ. Thứ đến, có Ðức Như Lai tên là Quang Viễn, thứ đến tên là Nguyệt Quang, thứ đến tên là Chiên Ðàn Hương, thứ đến tên là Thiện Sơn Vương, thứ đến tên là Tu Di Thiên Quán, thứ đến tên là Tu Di Ðẳng Diệu, thứ đến tên là Nguyệt Sắc, thứ đến tên là Chính Niệm, thứ đến tên là Ly Cấu, thứ đến tên là Vô Trước, thứ đến tên là Long Thiên, thứ đến tên là Dạ Quang, thứ đến tên là An Minh Ðỉnh, thứ đến tên là Bất Ðộng Ðịa, thứ đến tên là Lưu Li Diệu Hoa, thứ đến tên là Lưu Li Kim Sắc, thứ đến tên là Kim Tạng, thứ đến tên là Viêm Quang, thứ đến tên là Viêm Căn, thứ đến tên là Ðịa Chủng, thứ đến tên là Nguyệt Tượng, thứ đến tên là Nhật Âm, thứ đến tên là Giải Thoát Hoa, thứ đến tên là Trang Nghiêm Quang Minh, thứ đến tên là Hải Giác Thần Thông, thứ đến tên là Thủy Quang, thứ đến tên là Ðại Hương, thứ đến tên là Ly Trần Cấu, thứ đến tên là Xả Yếm Ý, thứ đến tên là Bảo Viêm, thứ đến tên là Diệu Ðỉnh, thứ đến tên là Dũng Lập, thứ đến tên là công Ðức Trí Tuệ, thứ đến tên là Tế Nhật Nguyệt Quang, thứ đến tên là Nhật Nguyệt Lưu Li Quang, thì đến tên là Vô Thượng Lưu Ly Quang, thứ đến tên là Tối Thượng Thủ, thứ đến tên là Bồ Ðề Hoa, thứ đến tên là Nguyệt Minh, thứ đến tên là Nhật Quang, thứ đến tên là Hoa Sắc Vương, thứ đến tên là Thủy Nguyệt Quang, thứ đến tên là Trừ Si Minh, thứ đến tên là Ðộ Cái Hạnh, thứ đến tên là Tịnh Tín, thứ đến tên là Thiện Túc, thứ đến tên là Uy Thần, thứ đến tên là Pháp Tuệ, thứ đến tên là Loan Âm, thứ đến tên là Sư Tử Âm, thứ đến tên là Long Âm, thứ đến tên là Xử Thế. Các Ðức Phật trên đây đều đã qua đời hết. Sau đó, lại có Ðức Phật tên Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Chính Ðẳng Chính Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư; Phật Thế Tôn.
Lúc ấy, có vị Quốc Vương nghe Phật thuyết pháp, sinh lòng vui vẻ, liền phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, lìa cõi nước, bỏ ngôi vua, xuất gia làm Sa Môn, hiệu là Pháp Tạng, tài cao, trí dũng khác đời. Ngài Pháp Tạng đến chỗ Ðức Thế Tự Tại Vương Như Lai, cúi đầu lễ dưới chân Phật, đi quanh theo phía bên phải ba vòng, rồi quỳ gối chấp tay và khen ngợi rằng:
Khuôn mặt hồng sáng chói
Oai đức tỏ vô cùng
Khỏa lấp cả không trung
Mặt trời không sánh nổi
Mặt trăng, ma ni châu
Cũng trở nên mờ tối.
Cao giọng nói chính pháp
Vang khắp cả mười phương
Giới, văn đều tinh tiến
Trí tuệ cũng không lường.
Uy đức dũng mãnh nhất
Trong đời ít ai bằng
Biển pháp của chư Phật
Sâu rộng mầu nhiệm thay!
Ðem trí thật suy xét
Tìm thấy rõ cội nguồn
Vô minh và dục vọng
Thế Tôn lìa tất cả
Bậc Sư Tử Nhân Hùng
Thần đức không thể lường
Trí tuệ rất cao thâm
Công huân thật rộng lớn
Oai tướng sáng hơn trăng
Chấn động cõi Ðại thiên.
Con nguyện khi làm Phật
Lên ngôi Thánh Pháp Vương
Dứt hẳn đường sinh tử
Ðến bên bờ giải thoát.
Sáu phép là Bố thí
Trì giới và Nhẫn nhục
Tinh tiến đến Thiền định
Trí tuệ là bậc nhất.
Con thề khi thành Phật
Làm hết những nguyện này
Tất cả điều sợ hãi
Biến thành niềm an vui.
Giả như có chư Phật
Trăm ngàn muôn ức triệu
Cùng các bậc Ðại Thánh
Nhiều như cát sông Hằng
Cúng dường hết tất cả
Chư Phật Ðại Thánh đó
Cũng không bằng cầu đạo
Kiên tâm không thoái chuyển.
Chí tinh tiến như thế
Oai thần khó lường đuợc.
Con khi được thành Phật
Sửa sang cõi nước này
Như cõi Niết Bàn kia
Thế gian không thể sánh
Chúng sinh trong nước đó
Cũng tốt đẹp lạ thường.
Con nay lòng thương xót
Ðộ thoát cho tất cả
Các chúng sinh sau này
Lòng mong cầu tinh tiến
Ðã đến nước con rồi
Ðều an lành vui vẻ.
May được Phật tin rõ
Tâm thành thật của con
Phát nguyện về Tịnh Ðộ
Nhờ tinh tiến tu hành
Mười phương các Ðức Phật
Trí tuệ rộng thấu suốt
Biết rõ tâm hạnh con
Dù thân có mỏi mòn
Trong mọi nỗi khổ đau
Con vẫn gắng tu hành
Dù chết chẳng ăn năn.
Phật bảo A Nan! Tỳ Kheo Pháp Tạng nói lời khen ngợi xong, lại bạch Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn con phát tâm vô thượng chính giác cúi xin Ðức Phật rộng nói Kinh pháp cho con nghe, con sẽ tu hành cho chóng thành chính giác, dứt bỏ gốc nguồn khổ não trong đường sinh tử, để giữ lấy cõi nước Phật thanh tịnh trang nghiêm và Pháp tạng mầu nhiệm của chư Phật.
Bấy giờ Ðức Thế Tự Tại Vương bảo Tỳ Kheo Pháp Tạng rằng: Chắc ông đã biết cách tu hành để trang nghiêm cõi Phật rồi chăng? Tỳ Kheo Pháp Tạng bạch Phật: Nghĩa ấy sâu rộng không thể nghĩ bàn, không phải cảnh giới của con. Kính xin Thế Tôn rộng lòng diễn giải hạnh nguyện về cảnh giới Tịnh Ðộ của chư Phật cho con nghe. Nghe rồi, con sẽ y theo thuyết đó tu hành cho hoàn thành sở nguyện.
Khi ấy, Ðức Phật Thế Tự Tại Vương biết ông là người cao minh có chí nguyện sâu rộng, liền nói Kinh cho Tỳ Kheo Pháp Tạng nghe rằng: Ví như người lấy đấu để lường biển cả, trải qua nhiều kiếp còn có thể lường tới đáy sâu, lấy được của báu. Huống chi, người dốc lòng tinh tiến cầu đạo không mỏi mệt, ắt sẽ có kết quả, nguyện gì mà chẳng được. Ðức Phật Thế Tự Tại Vương lại nói rộng ra hai trăm năm mươi ức cõi nước chư Phật, việc lành dữ của Trời và người, sự tốt xấu của cõi nước ứng hợp với tâm nguyện cho Ngài Tỳ Kheo Pháp Tạng nghe. Khi Tỳ Kheo Pháp Tạng nghe Phật nói thấy rõ hết cõi nước trang nghiêm, thanh tịnh, liền khởi sinh ý nguyện thù thắng tuyệt vời; tâm Ngài vắng lặng, chí không vướng mắc, giữ gìn hạnh thanh tịnh, trang nghiêm Phật độ đầy đủ trong năm kiếp mà tất cả thế gian không ai sánh bằng.
A Nan bạch Phật rằng: Ðức Phật ở cõi nước kia thọ được bao nhiêu tuổi? Ðức Phật dạy rằng: Thọ mệnh của Ðức Phật ấy được bốn mươi hai kiếp.
Lúc ấy, Tỳ Kheo Pháp Tạng giữ lấy hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười ức cõi nước mầu nhiệm của chư Phật. Sau khi chứng quả, Ngài đến chỗ Ðức Phật Thế Tự Tại Vương dập đầu lễ dưới chân Phật, đi chung quanh Phật ba vòng rồi đứng lại, chấp tay bạch Phật rằng: Lạy Ðức Thế Tôn! Con đã giữ được hạnh thanh tịnh để trang nghiêm cõi Phật rồi! Ðức Phật bảo Tỳ Kheo Pháp Tạng rằng: Ông nên biết bây giờ là lúc ông có thể nói ra cho tất cả đại chúng được sinh lòng vui vẻ. Các vị Bồ Tát nghe nói rồi tu hành theo phép ấy, thành tựu vô số các điều nguyện lớn.
Tỳ Kheo Pháp Tạng bạch Phật rằng: Kính xin Ðức Thế Tôn rủ lòng thương xét cho các điều nguyện lớn của con sau đây?
Ðiều nguyện thứ nhất: Nếu con được thành Phật mà trong cõi nước con còn có địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con sau khi thọ chung, còn phải sa vào đường dữ, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba: Nếu con được thành Phật, mà tất cả Trời, Người trong cõi nước con thân không giống màu vàng y, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ tư: Nếu con được thành Phật, mà tất cả Trời, Người trong cõi nước con thân hình còn có kẻ đẹp, người xấu thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ năm: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con không biết rõ túc mệnh của mình và những việc đã xảy ra trong trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ sáu: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, không được phép Thiên nhãn, cho đến không thấy rõ trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bảy: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con không được phép Thiên nhãn, không được nghe và thọ trì hết thảy lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha các Ðức Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ tám: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, không được thấy tâm trí kẻ khác, cho đến không biết rõ tâm niệm của hết thảy chúng sinh trong trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ chín: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, không được phép thần túc, trong một khoảng một niệm, cho đến không vượt qua được trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, còn có ý niệm tham chấp thân hình, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười một: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, không trụ vào chính định và chứng quả Niết Bàn, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười hai: Nếu con được thành Phật, mà ánh sáng còn có hạn lượng, không soi thấu được trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười ba: Nếu con được thành Phật, mà thọ mệnh còn có hạn lượng, chỉ được trăm ngàn ức na do tha kiếp, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười bốn: Nếu con được thành Phật, mà hàng Thanh Văn trong cõi nước con, còn có thể tính đếm được và chúng sinh trong ba ngàn Ðại thiên thế giới ở trong trăm ngàn kiếp thành bậc Duyên Giác hết, rồi tính đếm mà biết được số đó là bao nhiêu, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười lăm: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, thọ mệnh còn có hạn lượng, trừ phi những bản nguyện riêng của họ, muốn dài, ngắn đều được tự tại. Nếu không được như vậy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười sáu: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, còn có ai nghe thấy tiếng chẳng lành, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười bảy: Nếu con được thành Phật, mà vô lượng chư Phật ở mười phương thế giới không ngợi khen danh hiệu của con, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười tám: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương dốc lòng tin tưởng, muốn sinh về cõi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được toại nguyện, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác, trừ kẻ phạm năm tội nghịch và gièm chê chính pháp.
Ðiều nguyện thứ mười chín: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh mười phương phát tâm Bồ Ðề, tu các công đức, dốc lòng phát nguyện, muốn sinh về cõi nước con, tới khi thọ chung, mà con chẳng cùng đại chúng hiện ra chung quanh trước mặt người ấy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương nghe danh hiệu của con, để lòng nhớ nghĩ đến nước con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi mốt: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, chẳng được đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc Ðại nhân, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi hai: Nếu con được thành Phật, hết thảy chúng Bồ Tát ở cõi Phật phương khác sinh về cõi nước con, sau đó sẽ tới bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, trừ bản nguyện riêng của mỗi vị tự tại hóa hiện, vì thương xót chúng sinh mà rộng lớn, bền chắc như áo giáp, tu các công đức, độ thoát hết thảy, rồi khắp các cõi Phật, tu hạnh Bồ Tát và cúng dường mười phương chư Phật, khai hóa vô số chúng sinh, khiến lập nên đạo Vô Thượng Chính Giác. Chư vị vượt ngoài công hạnh, thông thường ở các địa vị mà tu tập theo hạnh nguyện của Ðức Phổ Hiền. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi ba: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, nương sức thần của Phật đi cúng dường các Ðức Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn, mà không tới được vô số, vô lượng ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi bốn: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, ở trước chư Phật, hiện ra công đức, muốn có muôn vàn vật dụng để cúng dường. Nếu không được như ý, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, không diễn thuyết được Nhất Thiết Trí, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi sáu: Nếu con được thành Phật, các Bồ Tát trong cõi nước con, không được thân Kim Cương Na La Diên, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính Giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước, cùng tất cả muôn vật không có hình sắc tốt đẹp, không thể tính lường, và hết thảy chúng sinh cho đến bậc đã được phép Thiên nhãn, mà không nói được rõ ràng danh số, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, cho đến kẻ có ít công đức nhất, không thấy được ánh sáng muôn mầu của cây Bồ Ðề cao bốn trăm vạn do tuần, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi chín: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, thụ trì, đọc tụng, giảng thuyết Kinh pháp, mà không được trí tuệ biện tài, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi: Nếu con được thành Phật, mà trí tuệ biện tài của các Bồ Tát trong cõi nước con còn có hạn lượng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi mốt: Nếu con được thành Phật, thì cõi nước con thanh tịnh, soi thấy tất cả vô lượng, vô số thế giới chư Phật ở mười phương không thể nghĩ bàn, như tấm gương sáng thấy được hình dạng mặt mày của mình. Nếu không được như vậy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi hai: Nếu con được thành Phật, trong cõi nước con, từ mặt đất đến hư không, cung điện, lâu đài, hồ ao, cây cỏ và muôn hoa đều được tạo nên bằng vô lượng của báu hòa lẫn với ngàn thứ hương thơm. Tất cả đều xinh đẹp lạ lùng hơn cả cõi Trời và cõi Người. Hương thơm của muôn vật tỏa ra ngào ngạt khắp mười phương thế giới. Bồ tát ở các nơi ngửi hương thơm ấy đều tu theo hạnh của Phật. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi ba: Nếu con được thành Phật, chúng sinh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, đều nhờ ánh quang minh của con chạm đến thân họ, khiến thân được nhẹ nhàng hơn cả Trời và Người. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi bốn: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu của con mà không được pháp Vô Sinh Pháp Nhẫn và các môn thâm tổng trì của bậc Bồ Tát, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà nữ nhân trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con đều vui mừng, phát tâm Bồ Ðề, chán ghét thân gái. Sau khi mệnh chung mà còn phải làm thân nữ nhân nữa, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi sáu: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà Trời và Người trong cõi vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tu hạnh Bồ Tát, được hầu hết Trời và Người kính trọng. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà Trời và Người trong cõi nước con, muốn có y phục, thì y phục tốt đẹp tùy theo tâm niệm của họ tự nhiên hiện ra trên mình họ. Nếu còn phải cắt may, nhuộm, giặt thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi chín: Nếu con được thành Phật, mà Trời và Người trong cõi nước con, không được sự hưởng thụ vui sướng bằng vị Tỳ Kheo đã dứt hết mọi phiền não thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật ở mười phương đều được như nguyện. Chẳng hạn, nhìn trong cây báu thấy rõ hết cả, như nhìn vào tấm gương sáng thấy rõ nhân diện. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi mốt: Nếu con được thành Phật, mà các chúng Bồ Tát ở thế giới khác nghe danh hiệu con, từ đó đến khi thành Phật, mà các sắc căn còn thiếu kém, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi hai: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con, đều được chính định giải thoát thanh tịnh; rồi trụ vào chính định đó trong khoảng một ý niệm cúng dường vô lượng chư Phật Thế Tôn chẳng thể nghĩ bàn, mà vẫn không mất chính định. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi ba: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con sau khi mệnh chung, thác sinh vào nhà tôn quý. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi tư: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, trọn đủ công đức. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con đều được Phổ Ðẳng tam muội, rồi trụ vào tam muội đó cho đến khi thành Phật, thường được thấy chư Phật chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi sáu: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, muốn nghe pháp gì, đều theo chí nguyện mình, tự nhiên được nghe. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới được bậc Bất thoái chuyển, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới ngay được ba đức nhẫn: Âm hưởng nhẫn, Nhu thuần nhẫn và Vô sinh pháp nhẫn. Ðối với các pháp của Phật mà không chứng được bậc Bất thoái chuyển, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Phật bảo A Nan rằng: Khi Pháp Tạng Tỳ Kheo nói xong những lời nguyện đó, liền làm bài kệ khen ngợi rằng:
Con lập nguyện hơn đời
Quyết tới Ðạo Vô thượng
Nguyện này không được toại
Thề chẳng thành Ðẳng giác.
Con ở vô lượng kiếp
Chẳng làm Ðại thí chủ
Cứu giúp chúng sinh khổ
Thề chẳng thành Ðẳng giác.
Tới khi con thành Phật
Khắp muôn phương thế giới
Nếu chẳng ai nghe danh
Thề chẳng thành Ðẳng giác.
Lìa dục tới chính niệm
Tu hành theo Phạm hạnh
Chí cầu ngôi Tối thượng
Làm Thấy cả Trời, Người.
Sức thần tỏa hào quang
Soi khắp cả Ðại Thiên
Tiêu trừ ba thứ độc
Cứu chúng sinh nguy nan.
Mở rộng mắt trí tuệ
Diệt hết chốn tối tăm
Ngăn lấp mọi đường dữ
Khai thông các nẻo lành.
Công phúc đều đầy đủ
Oai rạng tỏ mười phương
Nhật nguyệt hòa sức sáng
Cũng không sao sánh bằng.
Vì chúng khai tạng Pháp
Rộng truyền công đức báu
Thường ở trong đại chúng
Thuyết pháp giọng sư tử.
Cúng dường tất cả Phật
Trọn vẹn mọi công đức
Tuệ nguyện đều đầy đủ
Ðược làm Thầy ba cõi.
Trí vô ngại như Phật
Soi thấu khắp mọi nơi
Nguyện công đức của con
Bằng ngôi tôn quý nhất.
Nếu nguyện này thành tựu
Cảm động đến ba cõi
Các Thiên Thần trên không
Sẽ rải hoa nhiệm mầu.
Phật bảo A Nan rằng: Tỳ Kheo Pháp Tạng nói, bài kệ đó xong, thì khắp cõi đất có sáu thứ chấn động, chư Thiên rải hoa đẹp xuống đầu Ngài như mưa. Trên không tự nhiên nổi lên tiếng nhạc ngợi khen rằng: “Chắc chắn Ngài sẽ thành bậc Vô thượng Chánh giác”. Vì những điều nguyện lớn của Ngài Tỳ Kheo Pháp Tạng trọn đủ công đức, đúng thật không hư, vui cảnh tịch diệt, vượt khỏi thế gian.
Này ông A Nan! Ngài Tỳ Kheo Pháp Tạng ở chỗ Ðức Phật ấy, trong đại chúng tám bộ Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, phát lời thệ rộng, dựng lên nguyện lớn, rồi chuyên chí trang nghiêm cõi đất nhiệm mầu. Tỳ Kheo Pháp Tạng chăm lo cõi Phật, mở mang rộng lớn, xinh đẹp hơn các cõi khác. Công việc xây dựng liên tục, không suy, không biến, trải qua hàng triệu kiếp không thể nghĩ bàn. Ngài đã tu trồng vô lượng đức hạnh của bậc Bồ Tát, chẳng sinh ba tri giác: Dục giác, Sân giác và Hại giác; chẳng khởi ba tưởng: Dục tưởng, Sân tưởng và Hại tưởng, chẳng vướng sáu trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp. Thành tựu được đức nhẫn nhục, chẳng nài gian khổ, ít ham muốn, biết tạm đủ, không nhiễm tính sân, si. Tâm Thiền định thường yên lặng, trí tuệ không ngăn ngại. Không có lòng dối trá, nịnh bợ quanh co, nét mặt hiền hòa, lời nói thân thương biết trước ý người, sẳn lòng giải đáp. Chí nguyện Ngài không hề mệt mỏi, dũng mãnh tinh tiến, chuyên cầu pháp thanh tịnh, làm lợi ích cho chúng sinh, biết cung kính Tam bảo, phụng thờ Sư trưởng. Ngài dùng sức trang nghiêm tất cả, đầy đủ hạnh nguyện, khiến chúng sinh được thành tựu công đức. Ngài trụ vào các pháp không: không chấp tướng, không phát nguyện, không tạo tác và không sinh khởi; quán tưởng các pháp như huyễn, lìa bỏ lời nói thô ác, hại người và hại mình, tu tập các việc tốt lành, khiến cho lợi người và lợi mình. Quán tưởng như vậy rồi, Ngài rời cõi nước, bỏ ngôi vua, không nghĩ đến sắc dục, tiền của, tự mình tu hành sáu phép: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định và Trí tuệ, lại dạy người khác tu theo. Bởi không biết bao nhiêu kiếp góp công chứa đức, nên theo nơi mình sinh, ý nghĩ mình muốn, bao nhiêu kho báu tự nhiên hiện ra. Rồi giáo hóa, xây dựng cho vô số chúng sinh trụ vào đạo Vô thượng Chính giác. Lại nữa, hoặc làm Trưởng giả, Cư sĩ thuộc dòng tôn quý: hoặc làm Vua nước nhỏ, Vua nước lớn thuộc dòng Sát lỵ; hoặc làm chủ sáu cõi Trời Dục giới cho đến Phạm Vương và thường đem bốn món: y phục, thức ăn, đồ dùng, thuốc thang, cung kính cúng dường tất cả chư Phật. Những công đức như thế không sao kể xiết. Lại nữa, miệng thơm như hương sen, các lỗ chân lông tiết ra mùi hương chiên đàn tỏa khắp mười phương vô lượng thế giới. Nhân dạng đoan chính, đẹp đẽ khác thường. Tay Ngài thường buông ra những của báu vô tận: y phục, thức ăn và các vật dụng để trang nghiêm như hương hoa, ngọc quý, lụa lọng và cờ phướn. Các việc như thế hơn cả Trời và Người. Ðối với hết thảy các pháp đều được tự tại.
A Nan bạch Phật rằng: Bồ Tát Pháp Tạng đã được thành Phật và được diệt độ hay chưa thành Phật và chưa được diệt độ?
Phật bảo A Nan: Bồ Tát Pháp Tạng nay đã thành Phật và hiện ở phương Tây, cách đây mười muôn ức cõi. Thế giới của Ðức Phật ấy tên là An Lạc.
A Nan lại hỏi: Ðức Phật ấy thành Phật đến nay đã trải qua bao nhiêu kiếp rồi?
Phật bảo: Ngài thành Phật đến nay đã hơn mười kiếp. Cõi nước của Ðức Phật ấy có bảy món báu tự nhiên: vàng, bạc, hổ phách, lưu li, san hô, xà cừ, mã não hợp nên làm đất, rộng rãi thênh thang vô cùng. Các thứ báu ấy đều xen lẫn nhau, thật mầu nhiệm, rực rỡ, thanh tịnh và trang nghiêm hơn các cõi thế giới ở mười phương. Tính chất của các món báu ấy cũng quý như của báu trên cõi Trời thứ sáu. Lại nữa, cõi nước ấy không có núi Tu Di, Kim cương và các núi khác; cũng không có bể lớn, bể nhỏ, khe, ngòi, giếng, hang, sông; nhưng vì có sức thần của Phật nên muốn thấy thì được thấy; cũng không có cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và chướng nạn; cũng không có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Khí hậu thường điều hòa, chẳng lạnh, chẳng nóng.
Bấy giờ, A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu cõi nước kia không có núi Tu Di thì bốn vị Thiên Vương và cõi Trời Ðao Lợi nương tựa vào đâu? Phật bảo A Nan: Từ cõi Diệu Thiên thứ ba đến cõi Sắc Cứu Kính đều thung dung tự tại nên y cứ được.
A Nan bạch Phật: Ðó là Hạnh nghiệp và quả báo không thể nghĩ bàn, Phật bảo A Nan: Hạnh nghiệp và quả báo không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì nhờ sức lành công đức của chúng sinh trụ vào hạnh nghiệp ở cõi đất ấy, cho nên mới được như vậy.
A Nan bạch Phật: Con thật không nghi ngờ pháp ấy, nhưng chỉ vì thương chúng sinh đời mạt pháp sanh tâm nghi ngờ nên mới hỏi nghĩa đó.
Ðức Phật bảo A Nan: Ánh sáng oai thiêng của Ðức Phật Vô Lượng Thọ cao quý bậc nhất, ánh sáng của các Ðức Phật đều không thể sánh kịp, dù chiếu đến trăm thế giới Phật, hoặc ngàn thế giới Phật, nhẫn đến chiếu tới các cõi Phật về phương Ðông nhiều như số cát sông Hằng, rồi đến phương Nam, phương Tây, phương Bắc và bốn phương kề cận: hoặc có ánh sáng tỏa ra bảy thước, hoặc một do tuần, hoặc ba, bốn, năm do tuần, cứ gấp lên cho đến khi tỏa sáng khắp tất cả thế giới các cõi Phật cũng không sánh kịp. Vì thế, Ðức Phật Vô Lượng Thọ có những tên hiệu là: Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Ðối Quang Phật, Viêm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỉ Quang Phật, Trí Tuệ Quang Phật, Bất Ðoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xứng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.
Nếu có chúng sinh nào gặp ánh sáng ấy thì ba cấu (tham, sân, si) đều tiêu tan hết, thân tâm nhẹ nhàng, vui mừng hớn hở, phát lòng Bồ Ðề. Dù họ đọa nơi ba đường (địa ngục, ngã quỷ, súc sanh) vô cùng đau khổ mà thấy ánh sáng ấy đều được nghỉ ngơi không còn khổ não. Sau khi chết đi, cũng nhờ đó mà được giải thoát.
Ánh sáng rực rỡ của Ðức Phật Vô Lượng Thọ, soi tỏ mười phương các cõi nước Phật, chẳng những con nay khen ngợi ánh sáng của Ngài, mà đến các Ðức Phật, Bồ Tát, Duyên Giác và Thanh Văn cũng đều khen ngợi như thế. Nếu có chúng sinh nào biết được công đức oai thiêng trong ánh sáng của Ngài; ngày đêm dốc lòng nhắc nhở, ngợi khen, theo ý mình nguyện được sinh về cõi nước của Ngài và được các chúng Bồ Tát, Thanh Văn cùng ngợi khen công đức của mình. Sau cùng, khi chứng Phật đạo, được hết thảy chư Phật, Bồ Tát mười phương ngợi khen ánh sáng của mình, như đã ngợi khen ánh sáng của Ðức Phật Vô Lượng Thọ.
Ðức Phật bảo: Như Lai nói ra ánh sáng oai thiêng của Ðức Phật Vô Lượng Thọ, cao xa và mầu nhiệm khác thường, dù cho trọn một kiếp cũng chưa thể hết được.
Lại nữa, thọ mệnh của Ðức Phật Vô Lượng Thọ lâu dài không thể tính kể. Ông có hiểu chăng? Ví như vô số chúng sinh trong thế giới mười phương đều được thân người, khiến cho các bậc Duyên Giác, Thanh Văn cùng luận bàn suy nghĩ, dồn mọi trí lực trong trăm ngàn muôn kiếp cũng khó mà biết được hạn lượng, thọ mệnh dài hay ngắn của các hàng Bồ Tát, Thanh Văn, Trời và Người ở cõi nước Ngài.
Lại nữa, thọ mệnh của các Bồ Tát, Thanh Văn khó mà tính lường được, vì họ đều là những bậc thần thông, trí tuệ cao thâm, oai lực tự tại, nắm được tất cả thế giới trong bàn tay.
Phật bảo A Nan rằng: Trong buổi hội đầu tiên của Ðức Phật kia, số chúng Bồ Tát cùng Thanh Văn như Ngài Ðại Mục Kiền Liên và trăm ngàn muôn ức vô lượng vô số trong a tăng kỳ na do tha kiếp cho đến lúc diệt độ, nhân tính cộng lại cũng không thể xét rõ được số lượng như biển cả sâu rộng không cùng. Nếu có người chẻ một sợi tóc ra làm trăm phần, rồi lấy một phần thấm một giọt nước, theo ý ông, giọt nước ấy đối với biển cả kia có gọi là nhiều chăng?
A Nan bạch Phật: Giọt nước thấm vào một phần sợi tóc so với biển cả nhiều hay ít chẳng phải kẻ có tài tính toán, nói năng, ví dụ, so sánh mà biết được.
Phật bảo A Nan: Các bậc Bồ Tát, Thanh Văn trong buổi hội đầu tiên như ông Mục Kiền Liên đối với trăm ngàn vạn ức na do tha kiếp số lượng biết được cũng như một giọt nước ở trong biển lớn.
Lại nữa, khắp cõi nước của Ngài có bảy loại cây quý báu mọc đầy đủ như: vàng, bạc, lưu ly, hổ phách, san hô, mã não, xà cừ có cây được kết hợp bằng nhiều món báu như: cây vàng có lá, bông và trái bằng bạc.
Cây bạc có lá, bông và trái bằng vàng.
Cây lưu li và cây hổ phách cũng kết hợp như thế.
Cây thủy tinh có lá, bông và trái bằng lưu li.
Cây san hô có lá, bông và trái bằng mã não.
Cây mã não có lá, bông và trái bằng lưu li.
Cây xà cừ có lá, bông và trái bằng các thứ báu.
Có cây báu, gốc bằng vàng tía, thân bằng bạc trắng, cành bằng lưu li, nhánh bằng thủy tinh, lá bằng san hô, bông bằng mã não, trái bằng xà cừ.
Hoặc có cây báu: gốc bằng bạc trắng, thân bằng lưu li, cành bằng thủy tinh, nhánh bằng san hô, lá bằng mã não, bông bằng xà cừ, trái bằng vàng tía.
Hoặc có cây báu: gốc bằng lưu li, thân bằng thủy tinh, cành bằng san hô, nhánh bằng mã não, lá bằng xà cừ, bông bằng vàng tía, trái bằng bạc trắng.
Hoặc có cây báu: gốc bằng thủy tinh, thân bằng san hô, cành bằng mã não, nhánh bằng xà cừ, lá bằng vàng tía, bông bằng bạc trắng, trái bằng lưu li.
Hoặc có cây báu: gốc bằng san hô, thân bằng mã não, cành bằng xà cừ, nhánh bằng vàng tía, lá bằng bạc trắng, bông bằng lưu li, trái bằng thủy tinh.
Hoặc có cây báu: gốc bằng mã não, thân bằng xà cừ, cành bằng bạc tía, nhánh bằng bạc trắng, lá bằng lưu li, bông bằng thủy tinh, trái bằng san hô.
Hoặc có cây báu: gốc bằng xà cừ, mình bằng vàng tía, cành bằng bạc trắng, nhánh bằng lưu li, lá bằng thủy tinh, bông bằng san hô, trái bằng mã não.
Các hàng cây bằng nhau, thân sát vơí nhau, cành chạm với nhau, lá hướng vào nhau, bông thuận với nhau và trái hợp với nhau, thật là tươi thắm, nhìn không thể xiết. Gió thường nổi lên, phát ra năm thứ tiếng cung thương hòa hợp, thật là nhiệm mầu.
Lại nữa, cây Bồ Ðề của Ðức Vô Lượng Thọ, cao bốn vạn dặm, chu vi gốc cây năm ngàn do tuần, cành lá xòe ra bốn bên hai mươi vạn dặm, được kết hợp tự nhiên bằng tất cả các báu vật. Lại lấy ngọc Nguyệt Quang Ma Ni và Trì Hải Luân Bảo là vua của các báu vật mà trang nghiêm cho cây ấy. Xung quanh, dọc cây rủ xuống những chuỗi hạt quý lấp lánh trăm vạn màu khác lạ, chói sáng vô cùng. Lại có lưới báu trân diệu che trùm phía trên, nên tất cả những vẻ trang nghiêm tốt đẹp đều tùy đó mà hiện ra. Gió Thiền lay động các cây báu gây ra nhiều tiếng pháp nhiệm mầu. Tiếng ấy lan rộng khắp cõi Phật. Người nào có duyên lành nghe tiếng ấy sẽ được Pháp nhãn thâm sâu, trụ vào ngôi Bất thoái, sau sẽ chứng được Phật quả. Căn tai thông suốt không sinh bệnh khổ. Mắt thấy màu cây, mũi ngửi hương cây, miệng nếm vị cây, thân chạm vào ánh sáng của cây, sáu căn thông suốt, không còn bệnh tật phiền não nữa. Tâm với pháp duyên theo, đều được pháp nhãn thâm diệu, trụ vào ngôi Bất thoái chuyển, chứng thành Phật đạo.
Này ông A Nan! Trời và Người ở cõi kia, nếu ai trông thấy cây ấy thì được ba Pháp nhẫn là: Âm hưởng nhẫn, Nhu thuần nhẫn và Vô sinh pháp nhẫn. Ðó là nhờ vào sức oai thần và sức bản nguyện: Nguyện mãn túc, nguyện minh liễu, nguyện kiên cố và nguyện cứu kính của Ðức Phật Vô Lượng thọ.
Phật bảo A Nan rằng: Có hàng ngàn tiếng nhạc của các vị Ðế Vương, Chuyển luân thánh vương lên tới cõi Trời thứ sáu, kỹ nhạc âm thanh hơn gấp ngàn vạn ức lần. Muôn tiếng nhạc trên cõi Trời thứ sáu cũng không bằng tiếng nhạc của các cây Thất bảo ở cõi Phật Vô Lượng Thọ gây ra. Tiếng nhạc tự nhiên ấy tấu lên những pháp âm trong trẻo, du dương, mầu nhiệm, hòa nhã hơn các tiết điệu âm thanh ở thế giới mười phương.
Giảng đường, Tinh Xá, cung điện, lâu đài tự nhiên hiện ra, được trang trí bằng bảy báu vật. Lại lấy các ngọc báu: Trân châu, minh nguyệt, ma ni, kết làm tràng hoa chuỗi hột giăng phủ ở trên đó.
Lại có những ao tắm, hoặc mười, hai mươi, ba mươi cho đến trăm ngàn do tuần, dài, rộng, nông, sâu đều như nhau ở trong, ngoài và tả, hữu. Nước tắm công đức phẳng lặng tràn đầy, trong veo, sạch sẽ, mát thơm như nước cam lộ. Ao vàng ròng thì đáy bằng cát bạc trắng; ao bạc trắng thì đáy bằng cát vàng ròng; ao thủy tinh thì đáy bằng cát lưu li; ao lưu li thì đáy bằng cát thủy tinh; ao san hô thì đáy bằng cát hổ phách; ao hổ phách thì đáy bằng cát san hô; ao xà cừ thì đáy bằng cát mã não; ao mã não thì đáy bằng cát xà cừ; ao ngọc trắng thì đáy bằng cát vàng tía; ao vàng tía thì đáy bằng cát ngọc trắng. Hoặc có hai món báu, ba món báu cho đến bảy món báu cùng kết hợp mà thành. Trên bờ ao có cây chiên đàn, hoa lá tỏa ra, hương thơm ngào ngạt khắp nơi. Lại có những loại sen ở cõi Trời như: Hoa Ưu Bát La, hoa Bát Ðàn Ma, hoa Câu Mâu Ðầu, Hoa Phân Ðà Lợi đủ màu tươi đẹp nở khắp trên mặt nước. Các Bồ Tát và Thanh Văn ở cõi Phật kia khi vào ao báu, tùy theo ý muốn sẽ được toại nguyện, như muốn nước ngập chân, nước liền ngập chân; muốn tới đầu gối, nước liền tơí đầu gối; muốn tới ngang lưng, nước liền tới ngang lưng; muốn tới cổ, nước liền tới cổ; muốn tưới vào mình, nước liền tưới vào mình; muốn nước trở lại, nước liền trở lại. Ðiều hòa lạnh ấm tự nhiên theo ý muốn.
Nước ấy trong sáng, lắng sạch, yên lặng như hư không và có tác dụng làm cho tinh thần sáng suốt, thân thể tốt đẹp, gột sạch những nhơ bẩn trong tâm. Lại có cát báu lấp lánh ở bất cứ nơi nào, sâu thẳm cũng thấy rõ ràng. Dòng nước chảy quanh, chẳng chậm, chẳng mau, nhẹ nhàng êm ả, xoay vần khắp ao. Sóng gợn lăn tăn tự nhiên gây nên vô số tiếng mầu nhiệm theo chỗ đáp ứng, ở đâu cũng nghe thấy được. Hoặc nghe tiếng Phật, hoặc nghe tiếng Pháp, hoặc nghe tiếng Tăng; hoặc tiếng Tịch tĩnh, tiếng Không vô ngã, tiếng Ðại từ bi, tiếng Ba la mật, tiếng Thập lực vô úy bất cộng pháp, các tiếng Thông tuệ, tiếng Vô sở tác, tiếng Bất khởi diệt, tiếng Vô sinh nhẫn, cho đến tiếng Cam lộ quán đảnh và những tiếng Pháp mầu nhiệm khác… Những tiếng như thế, xứng hợp chỗ nghe, vui thích vô cùng. Tiếng ấy tùy theo nghĩa thanh tịnh, lìa dục, vẳng lặng, chân thật; tùy theo Pháp Vô sở úy bất cộng của sức Tam Bảo; tùy theo đạo Sở thành của bậc Bồ Tát, Thanh Văn thông sáng, không có cái tên tam đồ, khổ nạn, chỉ có tiếng khoái lạc tự nhiên. Bởi thế, cõi nước ấy được gọi là nước An Lạc.
Này ông A Nan! Những người được sinh qua cõi nước của Ðức Phật A Di Ðà đều được công đức đầy đủ, thần thông, âm thanh mầu nhiệm và sắc thân thanh tịnh như thế. Lại có cung điện, chỗ ở trang nghiêm, y phục đầy đủ, thức ăn uống, hoa hương mầu nhiệm và vật dụng để trang sức cũng như nhũng vật tự nhiên trên cõi Trời thứ sáu. Khi muốn ăn thì tự nhiên trước mặt hiện ra bát bằng Thất bảo: vàng, bạc, lưu li, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách, minh nguyệt, trân châu theo ý mình muốn. Hàng trăm thức ăn tự nhiên mà có đủ cả. Thực ra, tuy nói có các thức ăn uống nhưng chẳng ăn uống gì, chỉ thấy màu sắc, ngửi mùi hương, nếu nghĩ đến ăn thì tự nhiên no đủ. Thân tâm không ham đắm vị gì, nên hiện ra rồi lại biến đi, tới bữa ăn lại hiện ra như cũ. Cõi nước Ðức Phật A Di Ðà thanh tịnh, an vui tự tại, kỳ diệu ngang tới cảnh Niết bàn vô vi.
Các hàng Bồ Tát, Thanh Văn, Trời và Người ở cõi ấy, trí tuệ cao minh, thần thông diệu dụng, hình trạng giống nhau, không hề sai khác. Bởi vì, thuận theo hạnh nguyện khác nhau, nên mới có cái tên Trời, Người. Lại nữa, diện mạo đoan chính, trên đời hiếm có, dáng dấp nhiệm mầu, chẳng phải Trời, chẳng phải Người, hưởng thụ cái thân vô hư, cái thể vô cực của tự nhiên.
Ðức Phật bảo A Nan! Ví như trong đời hình dung người hành khất có thể giống ông Vua chăng?
A Nan bạch Phật: Bạch Ðức Thế Tôn! Người hành khất gầy ốm, xấu xa, ngu độn, hèn kém gấp trăm ngàn vạn ức lần vị Vua, dù người ấy ở bên cạnh vị Vua cũng không thể lấy gì so sánh được. Vì lẽ, người hành khất tầm thường hèn hạ, áo chẳng đủ che thân, ăn không đủ no dạ, đói rét khốn khổ, đều bởi nghiệp quả trước kia, giàu có bất nhân, đã chứa chất nhiều tiền của mà còn gian tham keo kiệt; chẳng tin nhân quả, không chịu làm lành, tội ác dẫy đầy chất cao như núi. Rồi khi chết đi, gia sản tiêu tan, suốt đời khổ thân, tích lũy cho người mà chẳng ích gì cho mình, không phúc đức để nương tựa, nên phải đọa vào chốn dữ, chịu khổ đời đời. Tội không siêu thoát nên dù được làm người chỉ là hạng hèn hạ, dốt nát quê mùa, bị đời khinh rẻ. Còn các vị Vua được tôn trọng nhất trong cõi người, đều do đời trước đã chứa góp nhiều công đức, rộng lòng ban ân, bố thí, thương yêu cứu giúp mọi người, tin Phật làm lành, không tranh chấp thiệt hơn, sau khi chết đi, được sinh lên cõi Trời, hưởng phúc an vui. Còn người làm nhiều điều thiện, nay được sinh vào Vương tộc, cao sang quyền thế, ai cũng kính trọng, ăn ngon, mặc đẹp, thỏa lòng sắm sửa. Ðược như vậy là nhờ phước đức xưa kia.
Phật bảo A Nan rằng: Ông nói phải đấy, Vua tuy là bậc tôn quý trong loài người, hình tướng đoan chính, nhưng so với bậc Chuyển Luân Thánh Vương thì rất là hèn kém, cũng như người hành khất bên cạnh vị Vua vậy. Bậc Chuyển Luân Thánh Vương oai tướng tốt đẹp lạ thường, là đệ nhất trong thiên hạ, nhưng so với Vua Ðế Thích trên cõi Trời Ðao Lợi thì lại xấu gấp vạn ức lần không thể sánh kịp. Nếu đem Vua Ðế Thích so với bậc Vua trên cõi Trời thứ sáu là Tha Hóa Tự Tại Thiên thì hơn kém nhau gấp trăm ngàn ức lần. Nếu bậc Vua ở cõi Trời thứ sáu so với các Bồ Tát, Thanh Văn trong cõi nước của Ðức Phật Vô Lượng Thọ thì vẻ đẹp tươi sáng của các Ngài gấp trăm ngàn vạn ức lần, chẳng có thể sánh được.
Phật bảo A Nan: Trời và Người trong cõi nước Phật Vô Lượng Thọ thì y phục, thức ăn uống, hoa hương, chuỗi hạt, tàng lọng, phan phướn, âm thanh, chỗ ở, nhà cửa, cung điện, lâu đài, đều xứng hợp với hình sắc cao thấp, lớn nhỏ. Lại có các món báu, hoặc một, hai cho đến vô lượng các món báu, theo ý mình muốn là sẽ có ngay. Lại dùng các thứ áo tốt đẹp làm bằng các món báu trải khắp cõi đất để tất cả Trời, Người dạo đi trên đó. Lại có vô lượng lưới báu trùm hết cõi Phật, lưới ấy đan bằng vàng, ngọc, trân châu và trăm ngàn thứ quý báu đẹp đẽ lạ lùng để tô điểm trang nghiêm khắp cõi. Lại có chuông báu rủ xuống, màu sắc rực rỡ vô cùng. Lại có gió đức hiu hiu tự nhiên dấy lên, điều hòa, man mác, chẳng lạnh chẳng nóng, chẳng chậm chẳng mau, thổi vào những mạng lưới và các cây báu, diễn ra vô lượng pháp âm nhiệm mầu, tỏa ra muôn thứ đức hương hòa nhã. Nếu có người nào nghe và ngửi được những hương ấy thì tâm niệm nhơ xấu tự nhiên lắng xuống và thân tâm đều được yên vui, như vị Tỳ Kheo được phép chính định. Lại có gió thổi hoa rơi khắp cùng cõi Phật, rơi theo từng mầu sắc mềm chịu, tươi thắm, ngào ngạt hương thơm. Chân đi trên đó, lún xuống bốn tấc, khi nhấc chân lên, lại trở về như cũ.
Sau rốt, đất liền nứt ra, chôn vùi mất hoa, không còn một cánh. Lại tùy theo thời tiết, gió thổi hoa rơi, đến sáu lần như thế. Lại có những hoa sen báu đầy khắp thế giới, mỗi một bông hoa có trăm ngàn ức cánh. Ánh sáng của hoa ấy có vô lượng sắc màu: màu xanh thì ánh xanh, màu trắng thì ánh trắng, màu tím thì ánh tím, màu vàng thì ánh vàng, màu đỏ thì ánh đỏ và màu tía thì ánh tía, chói lọi rực rỡ như mặt Trời và mặt Trăng. Trong mỗi một bông hoa tỏa ra ba trăm sáu mươi ngàn ức ánh sáng. Trong mỗi một ánh sáng hiện ra ba mươi sáu trăm ngàn ức Ðức Phật, thân mầu vàng tía, tướng đẹp khác thường. Tất cả các Ðức Phật lại phóng ra trăm ngàn ánh sáng, vì chúng sinh cả mười phương mà nói pháp nhiệm mầu, khiến tất cả trở về chính đạo của Phật.
(Hết Quyển Thượng)
Dịch Việt: HT. Thích Tuệ Đăng
Kinh Vô Lượng Thọ – Quyển Hạ
Kinh Vô Lượng Thọ – Quyển Hạ
Ðức Phật bảo A Nan: Nếu có chúng sinh nào sinh vào cõi ấy, đều trụ vào chánh định. Vì sao vậy? Vì trong nước của Ðức Phật ấy không có tà kiến và bất định. Mười phương chư Phật Như Lai nhiều như cát sông Hằng, đều cùng khen ngợi công đức oai thiêng của Ðức Phật Vô Lượng Thọ chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có chúng sinh nào nghe danh hiệu của Ngài mà tín tâm hoan hỷ, dốc lòng hồi hướng dù trong một niệm, nguyện sinh sang cõi nước ấy, liền được vãng sinh, trụ vào ngôi Bất thoái chuyển, chỉ trừ những kẻ phạm năm nghịch tội và gièm chê chính pháp.
Hết thảy Trời và Người trong mười phương thế giới, nếu ai dốc lòng nguyện sinh sang nước ấy thì được chia làm ba bậc:
Bậc trên là những người đã bỏ nhà, dứt dục, xuất gia làm Sa môn, phát tâm Bồ Ðề, chuyên niệm danh hiệu Ðức Phật Vô Lượng Thọ, tu các công đức, nguyện sinh sang cõi nước ấy. Những người này khi chết đi, sẽ thấy Ðức Phật Vô Lượng Thọ cùng đại chúng hiện ra trước mặt, liền được theo đức Phật Vô Lượng Thọ sinh qua cõi nước của Ngài tự nhiên hóa sinh trong đóa hoa Thất bảo, trụ vào ngôi Bất thoái chuyển, trí tuệ dũng mãnh, thần thông tự tại.
Này ông A Nan: Bởi thế, những người nào ở cõi Ta bà này mà muốn được thấy Ðức Phật Vô Lượng Thọ thì nên phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, tu hành công đức, liền được sinh về cõi nước của Ngài.
Bậc giữa là các Trời và Người trong mười phương Thế giới, nếu có ai dốc lòng nguyện sinh về cõi nước của Phật Vô Lượng Thọ, dù chẳng làm được Sa môn, tu công đức lớn, nhưng nếu phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, chuyên niệm danh hiệu Ðức Phật Vô Lượng Thọ, tu thiện được nhiều hay ít, chịu giữ trai giới, xây dựng tháp tượng, cúng dường Sa môn, treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương, đem những việc đó hồi hướng, nguyện sinh về cõi nước của Ðức Phật Vô Lượng Thọ. Những người ấy khi chết đi, Ðức Phật Vô Lượng Thọ cùng đại chúng hóa hiện thân hình đẹp đẽ như Phật, hiện ra trước mặt. Người ấy liền theo Ðức Hóa Phật mà vãng sinh về cõi nước của Ngài, trụ vào ngôi Bất thoái chuyển, công đức và trí tuệ gần bằng bậc trên.
Bậc dưới là các Trời và Người trong mười phương Thế giới, nếu có ai dốc lòng muốn sinh về cõi nước của Phật Vô Lượng Thọ, giả sử chẳng làm được công đức gì, nhưng nhờ phát tâm Vô thượng Bồ đề, chuyên niệm danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ, nguyện sinh về cõi nước của Ngài. Sau khi nghe pháp sâu xa mầu nhiệm, vui mừng, tin ưa, chẳng sinh nghi hoặc, dù trong một niệm, niệm danh hiệu Ðức Phật ấy, đem lòng chí thành nguyện sinh về cõi nước của Ngài, nên khi chết đi, mộng thấy Ðức Phật Vô Lượng Thọ và được vãng sanh. Công đức, trí tuệ của người ấy gần bằng bậc giữa.
Phật bảo A Nan: Ðức Phật Vô Lượng Thọ oai thiêng vô cùng. Trong mười phương Thế giới, chư Phật Như Lai vô lượng, vô biên, chẳng thể nghĩ bàn đều khen ngợi Ngài. Vô lượng, vô số Bồ Tát, Thanh Văn ở các cõi Phật về phương Ðông, nhiều như số cát sông Hằng, đều tới chỗ Ðức Phật Vô Lượng Thọ, cung kính cúng dường, đồng thời các Bồ Tát, Thanh Văn xin nhận lãnh Kinh pháp, rồi cùng giáo hóa các phương Tây, Nam và Bắc. Bốn phương Ðông Nam, Tây Nam, Ðông Bắc, Tây Bắc và phương trên, phương dưới cũng đều như thế cả.
Bấy giờ Ðức Thế Tôn liền nói bài tụng rằng:
Các cõi Phật phương Ðông
Số như cát sông Hằng
Chư Bồ Tát, Thanh Văn
Tới chầu Vô Lượng Giác.
Các Bồ Tát, Thanh Văn
Ðều tới nghe Kinh pháp
Ðem theo hoa Trời đẹp
Hương báu, áo quý giá
Cúng dường Vô Lượng Giác.
Khắp nơi tấu nhạc trời
Tiếng hòa nhã vang lừng
Ngợi khen đức thâm diệu
Cúng dường Vô Lượng Giác.
Thần thông, tuệ tuyệt vời
Thâm nhập Pháp sâu xa
Thật vẹn toàn công đức
Trí tuệ tựa mặt trời
Ðánh tan mây sinh tử
Chẳng ai sánh ví bằng
Cung kính nhiễu ba vòng
Cúi lạy Vô Thượng Tôn.
Thấy cõi Phật nghiêm tịnh
Mầu nhiệm không kể xiết
Liền phát tâm Vô thượng
Nguyện nước con cũng vậy.
Lúc ấy Ðức Di Ðà
Hân hoan trên nét mặt
Miệng luôn nhiều ánh sáng
Chiếu khắp cả mười phương.
Thân thể tỏa hào quang
Ba vòng chói xán lạn
Tất cả Trời và Người
Ðều vui mừng hớn hở.
Quán Thế Âm Ðại Sĩ
Xốc áo, cúi đầu hỏi:
Phật cười – Vì cớ gì?
Xin cho biết tôn ý:
Tiếng Phạm như sấm vang
Cất lên tám tiếng đáp:
“Vì Bồ Tát muốn biết
Hãy lắng nghe ta nói:
Chính sĩ mười phương lại
Ta biết hết nguyện họ
Chí cầu cõi nghiêm tịnh
Quyết định sẽ thành Phật.
Hiểu rõ hết thảy Pháp
Như mộng huyễn, tiếng vang
Ðầy đủ các điều nguyện
Tất sẽ được cõi này.
Hiểu Pháp như bóng chớp
Rốt ráo đạo Bồ Tát
Ðủ các cội công đức
Quyết định sẽ thành Phật.
Thông suốt các Pháp tính
Ðều là không, vô ngã
Chuyên cầu cõi Phật tịnh
Tất sẽ được cõi này.”
Phật dạy các Bồ Tát
Trụ vào An Dưỡng Phật
Nghe Pháp vui tu hành
Sớm được chốn thanh tịnh
Tới nước nghiêm tịnh kia
Mau chứng được thần thông
Hẳn Ðức Vô Thượng Tôn
Ghi nhận cho thành Phật.
Sức bản nguyện của Phật
Nghe danh muốn vãng sinh
Ðều về tới cõi đó.
Từ đầy không lui chuyển.
Bồ Tát khởi chí nguyện
Nguyện nước mình cũng vậy
Niệm độ khắp hết thảy
Danh tỏ đủ mười phương.
Phụng thờ ức vị Phật
Phi hóa khắp mọi cõi
Cung kính và hân hoan
Về tới nơi An dưỡng.
Nếu người không thiện tâm
Chẳng được nghe kinh này.
Người trai giới thanh tịnh.
Mới được nghe chính pháp
Lại từng thấy Thế Tôn
Thời tin được việc này
Khiêm, kính, nghe, vâng, làm
Tâm vui mừng hớn hở.
Kẻ kiêu mạn lười biếng
Khó thể tin pháp này
Ðời trước thấy chư Phật
Ham nghe Pháp như vậỵ.
Bồ Tát hoặc Thanh Văn
Chẳng xét được tâm Phật
Ví như kẻ mù lòa
Muốn làm người dẫn đạo.
Biển trí tuệ Như Lai
Sâu rộng không bờ bến
Nhị thừa chẳng lường được
Chỉ riêng Phật tỏ rõ.
Giả sử hết mọi người
Ðều tu hành đắc đạo
Tịnh tuệ biết vốn không
Ức kiếp nghĩ trí Phật.
Cùng tận tâm giảng thuyết
Hết đời cũng chẳng biết
Phật tuệ không ngằn mé
Thanh tịnh cùng như thế.
Thọ mệnh rất khó được
Ðời Phật cũng khó gặp
Người có tín tuệ khó
Nếu nghe tinh tiến cầu
Nghe Pháp thường chẳng quên
Thấy kính được phúc lớn
Cùng ta là bạn hiền
Bởi thế nên phát tâm.
Vì đời đầy đau khổ
Nên phải cầu chính pháp
Sẽ chứng được Phật đạo
Rộng độ giòng sinh tử.
Phật bảo A Nan: Bồ Tát trong cõi nước ấy sẽ được bổ vào ngôi vị Phật, trừ những Bồ Tát có bản nguyện, vì chúng sinh đem công đức hoằng thệ để trang nghiêm cho mình và muốn độ thoát hết cả chúng sinh chóng thành Phật quả. Này A Nan! Các chúng Thanh Văn trong cõi Phật ấy, ánh sáng nơi mình phóng ra tám thước, còn ánh sáng của Bồ Tát chiếu sáng một trăm do tuần. Trong các Bồ Tát đó, có hai vị Bồ Tát tôn quý vào bậc nhất, nên ánh sáng oai linh chiếu khắp ba ngàn Ðại thiên thế giới.
A Nan bạch Phật: Hai vị Bồ Tát ấy danh hiệu là gì?
Ðức Phật bảo: Vị thứ nhất tên là Quán Thế Âm, vị thứ hai tên là Ðại Thế Chí. Hai vị Bồ Tát đó đều ở cõi Ta bà này tu hạnh Bồ Tát, khi mệnh chung chuyển hóa sinh sang cõi nước Cực Lạc của Ðức Phật A Di Ðà.
Này A Nan! Những người nào sinh sang cõi nước ấy đều có đủ ba mươi hai tướng tốt, trí tuệ đầy đủ, thâm nhập các pháp, thông suốt tới chỗ cốt yếu mầu nhiệm thần thông diệu dụng, các căn sáng sủa, nhanh nhẹn. Những người căn tính sút kém thì thành tựu được hai đức nhẫn: Âm hưỡng nhẫn và Nhu thuận nhẫn; những người căn tính nhanh nhẹn thì được đức Vô sinh pháp nhẫn, không thể kể xiết.
Lại nữa, những vị Bồ Tát ấy, trước khi thành Phật, chẳng bị rơi vào chốn ác, thần thông tự tại, lại biết rõ sinh mệnh đời trước. Trừ những người sinh qua các phương khác là cõi đời ngũ trọc ác thế, thì thị hiện cùng chúng sinh ở những cõi ấy cũng như cõi nước của ta đây vậy.
Phật bảo A Nan: Bồ Tát ở cõi nước ấy, nương oai thần của Phật, dù trong khoảng một bữa ăn, đi tới vô lượng Thế giới mười phương, cung kính cúng dường chư Phật Thế Tôn, tùy theo tâm mình tưởng niệm tự nhiên hóa sinh ra vô số vô lượng những thứ cúng dường như hoa, hương, kỹ nhạc, áo lọng, cờ, phướn, ứng niệm liền đến, những thứ quý báu mầu nhiệm khác lạ, trong đời hiếm có, rồi đem dâng rải vào chư Phật và các chúng Bồ Tát, Thanh Văn. Ở trong hư không hóa thành cây lọng hoa mầu sáng rực rỡ, mùi thơm tỏa ngát khắp nơi. Hoa ấy có chu vi bốn trăm dặm, cứ như thế lần lượt gấp lên mãi, cho tới khi che kín cả ba ngàn Ðại thiên thế giới. Tuỳ theo thứ lớp trước sau rồi lần lượt biến mất. Các vị Bồ Tát ấy, đều cùng đẹp lòng vui vẻ. Ở trong hư không, nhạc Trời cũng trỗi lên. Tiếng nhạc tuyệt vời mầu nhiệm, ca ngợi công đức của Phật, thỉnh trụ Kinh pháp với tâm vô cùng hoan hỉ. Cúng dường chư Phật xong, trước khi ăn, bỗng nhẹ cất mình lên trở về cõi nước của mình.
Phật bảo A Nan: Ðức Phật Vô Lượng Thọ khi ban truyền giáo pháp cho các Bồ Tát, Thanh Văn, Trời và Người đều nhóm họp hết cả ở giảng đường Thất bảo, rộng tuyên đạo giáo, diễn xướng pháp mầu. Tất cả đều trong lòng hoan hỉ, tỏ ngộ được đạo lý.
Ngay lúc đó, bốn phương Trời tự nhiên nổi gió, thổi vào cây Thất bảo phát ra những tiếng Cung, Thương, Giốc, Chùy, Vũ, vô lượng các thứ hoa đẹp theo gió bay đi, rải ra bốn phía, tự nhiên cúng dường chẳng dứt. Tất cả chư Thiên đều đem trăm ngàn thứ hoa, hương, kỹ nhạc trên cõi Trời để cúng dường Ðức Phật Vô Lượng Thọ, các chúng Bồ Tát, Thanh Văn thì rải hoa hương và tấu âm nhạc. Kẻ trước người sau, kẻ qua người lại, tưng bừng vui vẻ, không thể kể xiết.
Phật bảo A Nan: Các hàng Bồ Tát v.v… sinh qua cõi Phật Vô Lượng Thọ, nếu ai có thể giảng thuyết thì thường tuyên chính pháp, bởi theo trí tuệ thông đạt của mình, không trái không lầm. Ðối với muôn vật ở cõi ấy, không ai có tâm ngã sở (coi vật là của mình), không ai có tâm đắm nhiễm, đi lại tự tại, không ưa thích cũng không ghét bỏ vật gì, không phân biệt mình với kẻ khác, chẳng ganh đua và chẳng tranh chấp. Lại có tâm đại từ bi nhiêu ích đối với chúng sinh, không có tâm ương ngạnh giận hờn. Lìa khỏi hết những phiền não làm dao động, nên tâm hoàn toàn thanh tịnh, không chán nản biếng nhác. Lại có tâm bình đẳng, tâm đắc thắng, tâm thâm diệu, tâm Thiền định, tâm ham pháp, vui pháp và mừng pháp. Lại dứt các phiền não, lìa tâm ác thú, suy xét tường tận việc làm của Bồ Tát, đầy đủ vô lượng công đức, được pháp Thiền định thâm diệu và thần thông quang minh trí tuệ. Ý chí nương vào bảy phần Giác ngộ, theo pháp Phật mà tu tâm, Nhục nhãn trong suốt, phân biệt tỏ rõ mọi điều. Thiên nhãn thông suốt không có hạn lượng. Pháp nhãn quán xét cùng tột các lẽ đạo. Tuệ nhãn thấy rõ lẽ thật dẫn tới bờ giác ngộ. Phật nhãn tròn vẹn biết rõ pháp tính. Ðem trí vô ngại diễn thuyết cho người nghe. Quán thấy ba cõi đều như hư không. Chí cầu Phật pháp, đủ các biện tài, trừ diệt phiền não của chúng sinh.
Lại nữa, tính thể từ Như Lai mà sinh ra nên hiểu rõ các Pháp là Như Như Bất Ðộng. Khéo hiểu nghĩa Tập đế, Diệt đế là phương tiện. Chẳng ham lời thế tục, vui ở nghĩa Ðại Thừa. Tu các căn lành, chí sùng Phật đạo. Biết tất cả Pháp đều vẳng lặng, sinh thân và phiền não đều hết. Nghe Pháp cao sâu, lòng không nghi ngại, chăm chỉ tu hành, đức tính đại bi, sâu xa mầu nhiệm, che chở khắp cõi, xét cùng nghĩa đạo Nhất thừa, đến bờ Giác ngộ. Tuệ tâm phát khởi, quyết đoán lưới nghi hoặc. Giáo pháp của Phật bao la không gì vượt ra ngoài được. Trí tuệ như biển cả, Thiền định như núi cao, ánh tuệ quang sáng chói hơn cả mặt Trời, mặt Trăng. Pháp trong sạch của các Ngài đầy đủ trọn vẹn như núi Tuyết, khiến các công đức đều trong sạch như cõi đất rộng không phân biệt những vật sạch, dơ, tốt, xấu; như nước sạch rửa hết cát, bụi, bẩn, nhơ; như lửa nồng đốt cháy tất cả củi phiền não; như bão loạn quay cuồng khắp thế giới không gì ngăn cản; như hư không chẳng vướng mắc vật gì; như hoa sen ở các cõi thế gian không hề nhuốm bẩn; như cỗ xe lớn chở hết chúng sinh thoát vòng sinh tử; như trên tầng mây, tiếng sấm Pháp lớn vang dậy, thức tỉnh những người mê muội; như trận mưa lớn, Pháp cam lộ thấm nhuần chúng sinh, như núi Kim cương, chúng ma ngoại đạo chẳng thể lay chuyển; như Phạm Thiên Vương đối với các Pháp lành là điều tôn quý; như cây Ni Câu Loại che khắp tất cả; như hoa Ưu Ðàm Bát hiếm có khó tìm; như loài chim cánh vàng oai hùng hàng phục ngoại đạo; như loài chim lãng du không tích lũy vật gì; như Ngưu vương không vật gì thắng được; như Tượng vương điều phục rất giỏi; như Mãnh sư không sợ hãi vật gì.
Ðức Ðại Từ lồng lộng như cõi hư không, diệt hết lòng ganh tị nên chẳng ghét kẻ hơn mình. Chăm vui cầu pháp, lòng không biết chán, cũng không biết đủ. Thường hay tuyên rộng chính pháp mà không mỏi mệt. Ðánh trống pháp dựng cờ pháp, rọi đèn tuệ phá tan vô minh. Tu sáu điều hòa kính, thường làm việc Pháp thí. Chí dũng mãnh tinh tiến, tâm không yếu mềm. Làm ngọn đèn sáng cho đời và ruộng phúc cho chúng sinh. Lại làm Thầy dẫn đạo, bình đẳng chẳng ghét, chẳng yêu chỉ vui với chính đạo, không có vui buồn nào khác. Nhổ sạch gai ham muốn an ổn chúng sinh. Công đức và trí tuệ chẳng ai sánh bằng khiến mọi người đều tôn kính. Diệt hết Tham, Sân, Si, dạo chơi bằng các Pháp thần thông, đầy đủ khí lực như: Lực nhân, lực duyên, lực ý, lực nguyện, lực phương tiện, lực thường, lực định, lực tuệ, lực đa văn, lực thí, lực giải, lực nhẫn, lực nhục, lực tinh tiến, lực Thiền định và lực trí tuệ. Lực chính niệm chỉ quán mọi lực thông minh. Lực như pháp để điều phục chúng sinh. Lại nữa, hình tướng tốt đẹp và công đức biện tài trang nghiêm trọn đủ, không ai sánh bằng. Cung kính cúng dường vô lượng chư Phật, thường được chư Phật ngợi khen, được các hạnh Ba la mật của Bồ Tát. Tu các phép Tam muội: Không, Vô tướng, Vô nguyện, Bất sinh, Bất diệt và các môn Tam muội, xa rời địa vị Duyên Giác và Thanh Văn.
Này A Nan! Các Bồ Tát ấy thành tựu vô lượng công đức như vậy, ta chỉ nói sơ qua cho ông nghe đấy thôi, nếu nói rộng ra thì trăm ngàn muôn kiếp cũng không hết được.
Phật bảo Di Lặc Bồ Tát và tất cả Trời, Người rằng: Các Bồ Tát, Thanh Văn trong cõi nước Phật Vô Lượng Thọ có công đức, trí tuệ chẳng sao kể xiết. Cõi nước ấy thật nhiệm mầu, an vui và thanh tịnh như thế, sao chẳng gắng sức làm lành, nghĩ đến Ðạo pháp tự nhiên, nương vào nơi không trên không dưới trống rỗng bao la, mà chuyên cần tinh tiến, gắng sức cầu nguyện, khiến dứt vòng luân hồi, sinh về cõi nước An Lạc, dứt hẳn năm đường dữ, tới con đường không hiểm nguy. Ðường đó tuy bình an và dễ qua, nhưng lại không có người chịu tu. Cõi nước đó chẳng có điều trái nghịch, muốn gì đều toại nguyện. Sao chẳng bỏ việc đời, chuyên cầu đạo đức để được sống lâu mãi mãi, yên vui không cùng.
Song, người đời thói bạc, chẳng chịu làm lành, tranh nhau những việc trái lẽ, tranh nhau nhiều việc trong cõi đời cực khổ dữ tợn này. Họ cần cù làm việc, mong thỏa mãn vật chất cho đời mình. Chẳng cứ sang, hèn, giàu, nghèo, già trẻ, trai, gái đều lo nghĩ nhiều về tiền của. Dù có hay không, cũng đều lo nghĩ, sợ hãi, buồn khổ trong lòng. Vì quá lo nghĩ nên tâm thần rối loạn, chẳng lúc nào được yên vui, yên tĩnh. Kẻ có ruộng lo ruộng, người có nhà lo nhà; nhẫn đến lo cả bò, ngựa, lục súc, tôi tớ, tiền của và các việc ăn mặc v.v… Chất chứa nghĩ suy, lo buồn sợ hãi. Lại lo bị những tai nạn bất thường như giặc cướp, nước, lửa, kẻ thù, chủ nợ, làm cho tiêu tan lụn bại gia sản; quanh quẩn lo buồn, không lúc nào nguôi! Kết giận trong lòng, chẳng rời lo lắng nên tâm ý cố bám, ham thích không lúc nào buông bỏ. Nhưng khi bể gẫy, dập nát, đem vứt bỏ đi, thân thác qua đời, chẳng có vật gì đi theo mình cả.
Kẻ giàu sang cũng có những nỗi lo âu, suy tính nhiều điều, cần khổ như thế, nên sinh ra bệnh tật. Kẻ nghèo cùng hèn hạ, thiếu kém mọi bề. Ví như không ruộng thì lo có ruộng, không nhà thì lo có nhà, không trâu, ngựa, lục súc, tôi tớ, tiền của và ăn mặc v.v… thì lo sao cho có đủ. Khi đã có đủ rồi lại tiêu tan mất, sinh ra buồn khổ, nên lại lập kế tìm mưu sao cho có lại. Khi chưa gặp thời suy tính chẳng được, thân tâm mỏi mệt, ngồi đứng chẳng yên, lo nghĩ chất chồng, cực khổ như thế, nên sinh bệnh tật. Hoặc lại ngồi không, cuộc đời phế bỏ, chẳng chịu làm lành, tu đức hành đạo. Ðến khi mệnh chung, thần thức phải sinh vào nơi xa khác, dù thiện hay ác cũng không hay biết.
Người sống trong cõi đời, cha con, anh em, vợ chồng, họ hàng, nội ngoại, phải kính thương nhau, không được tị hiềm, nên giúp đỡ lẫn nhau, không được tham sẻn; phải giữ hòa thuận, vui vẻ từ lời nói đến cử chỉ không nghịch chống nhau, không lòng tranh chấp, hận thù. Lòng tranh chấp, oán hận trong cõi đời này, chỉ nóng lên một chút mà trở nên thù oán dữ dội đến đời sau. Vì gây oán thù nên mưu hại lẫn nhau, tuy hiện tại không hành động ngay được, nhưng sự dồn nén vào cay độc của oán hận trong tinh thần, khiến khắc ghi trong tạng thức chẳng rời nhau được. Do đó, khi chết đi, cùng lúc tái sinh tìm nhau báo oán, trả thù!
Người đời thường thương yêu dây dưa ham muốn, nên trôi lăn trong vòng sinh tử, lại sinh một mình, tử một mình, đi một mình, lại một mình, buồn khổ hay vui sướng tự mình làm mình chịu, chẳng ai thay thế được. Thiện ác biến hóa, họa phúc đi theo, sinh vào chốn khác, mờ mờ mịt mịt, chẳng hay biết được; mỗi người mỗi ngả, vĩnh viễn chia lìa, mong gặp lại nhau, thật khó lắm vậy! Nay được gần gũi, sao chẳng bỏ mọi chuyện vô ích, gắng sức chuyên cần tu thiện, lúc còn khỏe mạnh tinh tiến nguyện độ chúng sinh để được thọ mệnh lâu dài.
Lợi ích như thế, sao chẳng cầu Ðạo vô thượng mà còn đợi chờ chi nữa? Người đời thường chẳng tin làm lành thì gặp lành, tu đạo sẽ chứng đạo; chẳng tin bố thí thì được phúc, người chết lại sinh ra. Vì không tin thiện ác, cho mình là phải, lại nghe lời nhau, từ cha đến con, kẻ trước người sau, Tổ tiên ông bà, chẳng biết đạo đức; thần thức ngu tối, tâm ý nghiễm ô, chẳng hiểu sinh tử, thiện ác, cát hung, họa phúc thế nào, nên hành động liều lĩnh. Sống chết lẽ thường, cùng nhau nối tiếp. Hoặc cha khóc con, hoặc con khóc cha, vợ chồng anh em thương khóc lẫn nhau. Tráo trở trên dưới, cội rễ vô thường, đều phải đi qua, chẳng giữ thường được. Lời Phật dạy bảo, ít người chẳng tin, cho nên trôi quanh trong đường sinh tử, không bao giờ ngừng. Những người như thế, đần độn ngu tối, chẳng tin kinh pháp, tâm không lo xa, ý khoái lạc thú, ngu si mê hoặc, ham dục tham tài, kiêu căng giận dữ. Ðó là vì chẳng hiểu đạo đức tu hành đắc đạo, nên chịu ác thú, sinh tử không cùng, thật đáng thương thay!
Sang hèn giàu nghèo, tôn ti trên dưới, đều mang lòng sát hại độc ác, gây sự càn dở, ác khí mờ mịt, nghịch với trời đất, chẳng thuận lòng người, làm điều trái ác, nên phải tội nặng. Tuổi thọ chưa hết, đã bị chết đi, đọa vào đường dữ, quẩn quanh trong đó, hàng ngàn ức kiếp, không hẹn ngày ra, nói sao cho hết, nhiều nỗi đau thương!
Phật bảo Di Lặc Bồ Tát và Trời, Người rằng: Phải suy nghĩ kỹ, gắng làm việc thiện, tránh xa việc ác, vì ái dục vinh hoa vốn chẳng thường còn. Nay gặp Phật ở đời, cần phải tinh tiến cầu đạo, ai có chí nguyện muốn sinh về Cực Lạc, ắt sẽ được trí tuệ, công đức hơn hết, đừng chiều theo dục vọng mà phụ kinh giới. Nếu có nghi hoặc, không hiểu nghĩa kinh, nên đem hỏi Phật, xin Ngài chỉ dạy cho.
Bồ Tát Di Lặc quỳ gối bạch Phật rằng: Uy thần của Phật thật là tôn quý. Theo lời Phật dạy; con đã nghe và suy nghĩ kỹ lời nói chân thiện đó, quả đúng người đời như vậy. Nay Phật từ mẫn, chỉ dạy đạo lớn, khiến Trời, Người đều đội ơn lành, tỉnh tai sáng mắt, giải thoát lo khổ và muôn loại đều được thấm nhuần ân đức, Phật tuệ thông suốt tám phương, trên dưới, quá khứ, vị lai cùng mọi việc hiện tại. Ngày nay chúng con đều được độ thoát là nhờ ở đức khiêm tu cần khổ, cầu đạo đời trước của Phật. Ân đức của Phật che khắp, phúc lộc cao vời, quang minh soi suốt, mở cửa Niết Bàn. Phật là Ðấng Pháp Vương, đứng trên các bậc Thánh, làm Thầy tất cả cõi Người, theo chỗ tâm nguyện, đều khiến đắc đạo. Nay được gặp Phật, lại được nghe hồng danh Ðức Phật Vô Lượng Thọ, tất cả đều vui mừng, tâm trí được mở mang sáng suốt.
Phật bảo Bồ Tát Di Lặc: Ông nói phải đấy, nếu có người nào tin kính Ðức Phật, thì người ấy có phúc thiện lớn, vì lâu lắm Phật mới thị hiện một lần. Nay ta làm Phật ở cõi đời nầy, diễn nói kinh pháp, truyền bá đạo giáo, cắt lưới nghi ngờ, nhổ gốc ái dục, lấp mọi nguồn ác, đi khắp Tam giới, không đâu trở ngại. Trí tuệ mở mang, tóm thâu lý đạo, cầm giữ mối giềng, phân minh rõ rệt, chỉ bảo năm chốn, độ kẻ chưa độ, dứt hẳn sinh tử, đến đạo Niết Bàn.
Di Lặc nên biết: Ông từ vô số kiếp tới nay, tu hạnh Bồ Tát, cứu độ chúng sinh, từ lúc đắc đạo, cho đến khi vào Niết Bàn, không thể kể số được. Ông cùng mười phương Trời, Người và tứ chúng nhiều kiếp xoay vần trong năm đạo, lo sợ cần khổ, không thể nói hết. Ðời nay gặp Phật, được nghe kinh pháp, lại được nghe tên Phật Vô Lượng Thọ, thật vui sướng lắm thay! Tôi mừng giùm cho ông đó. Ông nay cũng nên tự chán mọi nổi thống khổ về Sinh, Lão, Bệnh, Tử và sự xấu bất tịnh, chẳng đáng vui kia. Tự mình nên quyết đoán, thân ngay, tâm chính, làm nhiều việc thiện, sửa mình trong sạch, rửa bỏ tâm nhơ. Lời nói tin thật, nết na ngay thẳng, ý nghĩ, việc làm ứng hợp với nhau. Người đã độ được mình, lại cứu người khác, tinh tiến cầu nguyện, chứa thêm nhân lành. Tuy có mỏi mệt nhưng được sinh về cõi Phật Vô Lượng Thọ, vui sướng không cùng, an vui mãi mãi. Ðã nhổ hết gốc rễ sinh tử, lại không còn khổ nạn, tham giận, ngu si. Lúc ấy, muốn thọ một kiếp, một trăm kiếp hay ngàn ức vạn kiếp cũng tùy theo ý mình, đều có thể được. Ðó là Pháp vô vi tự nhiên, gần với đạo Niết Bàn. Các ông tâm nguyện điều gì, đều phải tinh tiến, không nên ngờ vực, kẻo hối không kịp, giữa chừng ăn năn, tự làm tội lỗi, sinh vào cung điện thất bảo nơi biên địa kia, trong năm trăm năm, chịu mọi gian khổ.
Di Lặc bạch rằng: Con xin ghi nhận lời dạy vô cùng quý báu của Phật, chăm chỉ tu học, vâng làm theo lời Phật dạy, chẳng dám nghi ngờ điều gì.
Phật bảo Di Lặc: Các ông ở trong đời này, ngay lòng thật dạ, chẳng làm việc dữ, công đức rất lớn, mười phương thế giới chẳng ai sánh bằng. Tại sao? Vì cõi nước chư Phật, các hàng Trời và Người, chỉ làm các điều lành, chẳng làm những điều dữ, nên dễ dàng khai hóa. Nay ta làm Phật ở thế gian này, trong đó có năm sự dữ, năm sự đau, năm sự dốt, rất là cực khổ. Như Lai giáo hóa quần sinh, khiến bỏ năm sự dữ, rời năm sự đau, lìa năm sự dốt; khiến giữ năm sự lành, để dẫn đến phúc đức trường thọ của Ðạo Niết Bàn, thật là vô cùng khó khăn.
Năm sự dữ là gì? Năm sự đau là gì? Năm sự dốt là gì? Làm thế nào tiêu trừ năm sự dữ, khiến giữ năm sự lành, để cho đầy đủ phúc đức, khi chết đi được sinh lên cõi Trường Thọ Niết Bàn.
1. Sự dữ thứ nhất: Từ Trời, Người cho đến các loài giun, bọ, đều cùng ham làm những việc bạo ác, mạnh bắt nạt yếu, mưu hại lẫn nhau, chèn ép đánh giết, cắn nuốt lẫn nhau. Chẳng biết tu thiện, ác nghịch vô đạo, tự nhiên chịu lấy tội vạ về sau. Thần minh ghi nhớ, chẳng tha kẻ phạm. Thế nên có kẻ nghèo khó thấp hèn, ăn xin côi cút, câm ngọng điếc mù, xấu xa ngây dại, chẳng kịp được người. Vả lại, có kẻ giàu sang, thông minh tài trí là do tu thiện tích đức, thực hành thiện pháp trong những đời trước. Nhưng nay lại thành nghiệp ác gây nên tội lỗi. Lúc sống vướng phải pháp luật thế gian, lao tù đày đọa, chịu mọi hình phát, rõ ràng trước mắt, khó mong ra khỏi. Ðến khi chết đi, vào cõi u minh, hoặc lâu hoặc mau, chuyển sang thân khác, phải chịu Tam đồ thật là cực khổ. Thần hồn tình thức, tự nhiên cùng sinh, báo oán lẫn nhau, triền miên không dứt. Ác báo chưa hết, chẳng rời được nhau, loanh quanh trong đó, không hẹn ngày ra, khó được giải thoát, khổ đau rên xiết. Ðó là sự dữ thứ nhất, sự đau thứ nhất, sự dốt thứ nhất. Ví như lửa dữ đốt cháy thân người, nhưng nếu người biết được thì dù ở trong lửa dữ, một lòng chống ý, ngay mình sửa nết, làm mọi điều lành, chẳng làm điều dữ, liền được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi qua đời, được sinh lên cõi Thượng thiên Nê hoàn. Ðó là sự lành lớn thứ nhất.
2. Sự dữ thứ hai: Người trong thế gian, cha con, anh em, chồng vợ không biết nghĩa lý, chẳng theo pháp luật, tâm ý buông lung, hoang dâm kiêu ngạo, nịnh nọt chẳng ngay, nói năng không thật; ghét người hiền, chê người thiện, bẫy người vào chỗ oan uổng. Bậc trên bất minh, tin dùng kẻ dưới; kẻ dưới tự ý, gian giảo nhiều bề, mưu mô tham nhũng, hại kẻ trung lương, trái nghịch ý trời. Dưới lừa dối trên, con lừa dối cha; bà con quen biết, dối gạt lẫn nhau; ai nấy đều mang lòng tham muốn, giận hờn, ngây dại, coi mình cao trọng, tham lam quá độ, sang hèn trên dưới, đều như vậy cả. Làng xóm chợ thôn, người ngu kẻ dại, bóc lột lẫn nhau, kết thành oan trái. Giàu có keo sẻn, chẳng chịu giúp người, tham ái quá nặng, khổ xác nhọc tâm. Cứ như thế mãi, không nơi nương cậy; trong cõi u minh, đi lại một mình; thiện ác họa phúc, theo nghiệp đầu thai. Hoặc ở chốn vui, hoặc vào nơi khổ, sau đó mới hối, thì đã muộn rồi. Người trong thế gian, tâm ngu trí mọn, chê ghét người lành, chẳng lòng kính mến. Hành động gian tham, rình lấy của người, khi tiêu xài hết, lại đi tìm kiếm. Tâm tà chẳng chính, chẳng chịu nghĩ suy, việc đến xảy ra, bấy giờ mới hối.
Lúc sống vướng phải pháp luật thế gian, theo tội mình làm, chịu lấy hình phạt. Ngoài ra thiên thần ghi tên vào sổ nên khi chết đi, thần hồn bị đọa vào trong đường dữ, khổ não không lường. Quanh quẩn trong đó, nhiều đời nhiều kiếp, không hẹn ngày ra, khổ đau khôn xiết! Ðó là sự dữ lớn thứ hai, sự đau thứ hai, sự dốt thứ hai. Ví như lữa dữ, đốt cháy thân người. Nhưng nếu người biết được thì dù ở trong đó, một lòng chống ý, ngay mình sửa nết, không làm việc dữ, chỉ làm việc lành, liền được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi qua đời được sinh lên cõi Thượng thiên Niết Bàn. Ðó là sự lành lớn thứ hai.
3. Sự dữ thứ ba: Người ta sinh trong thế gian, đều là sống gửi, tuổi thọ chẳng được bao nhiêu. Trên là bậc hiền minh, trưởng giả, tôn quý hào phú; dưới là kẻ bần cùng hạ tiện, bại liệt ngu si; giữa là người ác, thường mang lòng tà, chỉ nghĩ dâm dật, phiền não, ái dục giao loạn, ngồi đứng chẳng yên; ý tham tiếc giữ, chỉ muốn lấy được; dòm ngó sắc đẹp, thói tà hiện ra, vợ mình chán ghét, đi lại ngoại tình; tổn hại gia cang, làm điều trái phép, tụ hợp kết bè, ra quân đánh lộn, chỉ nghĩ việc ác, làm càn làm bậy, trộm cắp của người; dông tâm phởn ý, mệt xác tìm vui chốc lát. Hoặc đối với họ hàng, chẳng kể người nên kẻ dưới, bà con nội ngoại, buồn khổ chán ghét, lại cũng chẳng sợ phép nước cấm ngăn. Tội dữ như thế, chạm đến cả người và quỷ; Nhật nguyệt soi thấy, Thần minh xét biết, nên bị đọa vào Tam đồ khổ não; quanh quẩn trong đó, nhiều đời nhiều kiếp, chẳng hẹn ngày ra, khổ đau khôn xiết! Ðó là sự dữ lớn thứ ba. Ví như lửa mạnh đốt cháy thân người. Nhưng nếu người biết được, thì dù ở trong đó, một lòng chống ý, ngay mình sửa nết, chỉ làm việc lành, chẳng làm việc dữ, liền được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi qua đời, được sinh lên cõi Thượng Thiên Niết Bàn. Ðó là sự lành lớn thứ ba.
4. Sự dữ thứ bốn: Người trong thế gian, chẳng nghĩ tu thiện, chỉ xúi giục nhau, làm những việc ác. Hoặc nói hai chiều, nói lời độc ác, nói lời gian dối, nói lời thêu dệt, gièm pha, ghen ghét, phá hại người hiền, chẳng hiếu cha mẹ, khinh nhờn Sư Trưởng, chẳng giữ thành tín với bầu bạn. Tự cao tự đại, cho mình có học, cậy thế làm càn, lấn át người khác; không biết xấu hổ, chẳng sợ Trời Ðất, Thần Minh Nhật Nguyệt, coi thường tất cả. May nhờ đời trước, làm nhiều phúc đức nên được tiếp giúp cho chút ơn lành. Ðời nay làm dữ, phúc đức mất hết, các thiện quỷ thần, đều xa bỏ cả. Trơ trọi một mình, không nơi nương tựa. Tuổi thọ khi hết, sự dữ đi theo, tội báo kéo lôi, không sao lìa bỏ, đành phải đi trước vào trong vạc lửa, thân tâm tan nát, tinh thần đau khổ, tới lúc ấy rồi, ăn năn không kịp. Cho nên phải lăn lộn trong tam đồ khổ não, nhiều đời nhiều kiếp, không hẹn ngày ra, khổ đau khôn xiết! Ðó là sự dữ thứ tư, sự đau thứ tư, sự dốt thứ tư, khổ sở khôn cùng. Ví như lửa dữ, đốt cháy thân người. Nhưng nếu người biết được, thì dù ở trong đó, một lòng chống ý, ngay mình sửa nết, chỉ làm việc lành, chẳng làm việc dữ, liền được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi qua đời, được sinh lên cõi Thượng Thiên Niết Bàn. Ðó là sự lành thứ tư.
5. Sự dữ thứ năm: Người ở Thế gian, dựa dẫm lười biếng, chẳng chịu làm lành, sửa mình tu tập. Cha mẹ dạy bảo, trợn mắt giận dữ, nói năng chẳng hòa, trái ngược ngang bướng. Giống như oan gia, chẳng hơn chẳng kém, lấy cho bừa bãi, ai cũng ghét chê, quên ơn trái nghĩa, không tâm báo đền. Nghèo cùng túng thiếu, sinh tâm làm liều, dông dỡ chơi bời, bạc bài gian lận, số tiền lấy được, dùng nuôi thân mình, đắm say rượu thịt, ăn uống không chừng, tâm ý buông lung, ngang tàng xấc xược; chẳng biết phải trái, cưỡng ép tình người. Thấy người hiền thiện, đem lòng ganh ghét, không lễ không nghĩa, chẳng kiêng nể gì. Tự cho mình phải, chẳng kể khuyên can. Lục thân quyến thuộc, hoặc no hay đói, chẳng cần nghĩ đến; chẳng nghĩ công ơn cha mẹ, chẳng giữ đạo nghĩa Thầy bạn. Tâm thường nghĩ điều dữ, miệng thường nói điều dữ, thân thường làm việc dữ, chẳng làm một chút lành. Chẳng tin chư Phật, Kinh Pháp, Thánh Hiền; chẳng tin tu đạo thì được giải thoát, chẳng tin chết rồi còn có sinh nữa, chẳng tin làm lành được lành, làm dữ chịu dữ. Lại muốn giết cả Phật Thánh, khuấy rối chúng Tăng; muốn hại đến cả cha mẹ, anh em, họ hàng, lục thân ghét bỏ, mong cho chết đi. Tâm ý người đời, phần nhiều như vậy. Ngu dại mờ tối, lại cho mình khôn ngoan sáng suốt; chẳng biết sinh từ đâu lại, chết sẽ đi đâu, chẳng nhân chẳng thuận, trái nghịch trời đất, mà vẫn cầu mong được sống lâu. Phật có từ tâm dạy bảo, khiến cho tỏ ngộ đường sinh tử, thiện ác, thì lại chẳng chịu tin theo. Tâm bị nghẽn lấp, ý chẳng mở mang. Ðến khi sắp chết, những sự ăn năn, sợ hãi dồn đến, thì dù muốn lo làm lành, ăn năn sửa đổi, làm sao kịp được. Trong khoảng trời đất, năm đạo rõ ràng: Trời, Người, Ðịa ngục, Ngã quỷ, Súc sinh mênh mông mờ mịt, thiện ác báo ứng, họa phúc theo nhau, tự mình chịu lấy, chẳng ai thay được. Người lành làm việc lành, từ vui vào chỗ vui, từ sáng vào chỗ sáng; người dữ làm việc dữ, từ khổ vào chỗ khổ, từ tối vào chỗ tối. Lẽ ấy không ai biết được, chỉ có Phật mới biết rõ thôi. Lời dạy chỉ bảo, nhưng ít kẻ tin theo. Sống chết chẳng ngừng, đường dữ chẳng dứt. Người đời như thế, khó thể nói hết. Cho nên mới có ba đường khổ não, lăn lộn trong đó, nhiều đời nhiều kiếp, khó được giải thoát, đau khổ nói sao cho xiết. Ðó là sự dữ thứ năm, sự đau thứ năm, sự dốt thứ năm, khổ sở không cùng. Ví như lửa mạnh đốt cháy thân người. Nhưng nếu người nào biết được, dù ở trong đó, một lòng chống ý, ngay mình sửa nết, chỉ làm việc lành, chẳng làm việc dữ, thì được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi chết đi, được sinh lên cõi Thượng Thiên Niết Bàn. Ðó là sự lành thứ năm.
Phật bảo Di Lặc rằng: Ta bảo với các ông, đời có năm sự dữ, năm sự đau, năm sự dốt, khổ sở như vậy. Tất cả chỉ vì làm điều dữ, chẳng chịu làm điều lành, nên mới phải ra vào trong các đường dữ. Hoặc ngay hiện tại mắc bệnh hiểm nghèo, mong chết chẳng được, mong sống chẳng xong. Tội báo hiển hiện khiến cho mọi người đều được trông thấy. Ðến khi chết đi, theo việc đã làm, vào ba đường dữ, tự đốt lẫn nhau, khổ sở khốn cùng, đến bao đời sau, cùng gây kết oán. Khởi từ việc nhỏ, liền thành ác lớn, đều bởi tham tài năm sắc, chẳng chịu làm ơn bố thí, ngu si tham dục hối thúc, tư tưởng chạy theo tâm mình, phiền não trói buộc, chẳng cởi ra được. Giành lợi về mình, không xét phải trái. Giàu sang sung sướng, hiện thời vui dạ, chẳng hay nhẫn nhục, chẳng chăm tu thiện. Uy thế không được bao, rồi cũng tan biến hết, khiến tâm thân lao khổ, lâu ngày thành nguy kịch. Thể đạo thường nhiên, xưa nay vẳng lặng, tựa như cung tên, giương, buông vẫn giữ. Màn lưới nhân quả đều hợp lẫn nhau, như bóng theo hình, tuy thưa khó lọt. Riêng mình côi cút, sống trong cảnh ấy, mà chẳng hay biết, thật thẹn lắm thay!
Thế gian như vậy, ta thật thương họ, nên đem sức thần, trừ diệt việc dữ, đưa tới điều lành. Xóa sạch ý quấy, giữa gìn kinh giới, chịu làm theo đạo pháp, chẳng hề sai trái, hầu mong giải thoát tới đạo Niết Bàn.
Phật lại dạy rằng: Ông cùng với các hàng Trời, Người và người đời sau, được nghe kinh Phật, phải suy nghĩ kỹ. Thực hành theo lời Phật dạy, tâm ngay hạnh chính; bậc trên nhất nên làm việc lành để dẫn dụ kẻ dưới, khuyên bảo lẫn nhau, khiến ai nấy tự giữ mình cho ngay chính. Tôn bậc Thánh, kính người lành, nhân nghĩa từ bi, lời Phật dạy bảo, không hề sai trái. Lòng mong cứu đời, nhổ dứt gốc mọi sự dữ trong đường sinh tử, xa lánh tam đồ là ba đường dữ, vô cùng lo sợ khổ đau. Các người hãy nên trồng nhiều cây đức, ban ơn bố thí, đừng phạm giới cấm; nhẫn nhục, tinh tiến, Thiền định, trí tuệ; giáo hóa lẫn nhau, tu phúc làm thiện. Chính tâm thành ý, trai giới thanh tịnh, một ngày một đêm, công đức còn hơn làm lành một trăm năm ở cõi Phật Vô Lượng Thọ. Tại sao vậy? Vì cõi nước Ðức Phật ấy, vô vi tự nhiên, chứa mọi sự lành, không có mảy may sự dữ. Cõi Ta bà tu thiện mười ngày mười đêm còn hơn làm lành một ngàn năm ở các cõi Phật phương khác. Tại sao vậy? Vì ở các cõi Phật phương khác, người làm lành nhiều, kẻ làm dữ ít, phúc đức tự nhiên, không có chỗ để tạo nên sự dữ. Chỉ ở cõi Ta bà có nhiều sự dữ, chẳng có tự nhiên. Khổ công tham muốn, lừa dối lẫn nhau, mệt tâm nhọc thân, ăn cay uống đắng, việc dữ như thế, nối tiếp không ngừng. Ta thương các người là hàng Trời, Người, nên khổ tâm dạy bảo, khiến tu thiện nghiệp. Tùy nghi dạy bảo, trao cho kinh pháp. Nếu ai được tin, theo ý sở nguyện, đều khiến cho chứng đước đạo quả. Phật đi đến đâu, nước làng khu xóm, chẳng đâu chẳng được nhờ ơn giáo hóa. Thiên hạ hòa thuận, nhật nguyệt sáng trong, mưa gió thuận hòa, tai nạn chẳng khởi. Nước giàu dân yên, binh đao vô dụng. Chuộng đức dấy nhân, chăm tu lễ nhượng.
Phật lại dạy rằng: Ta thương xót lũ người là các Trời, Người, còn hơn cha mẹ, thương nghĩ đến con. Nay ta làm Phật ở cõi đời này, hàng phục năm sự dữ, tiêu trừ năm sự đau, diệt tắt năm sự dốt, đem sự lành, trừ sự dữ, nhổ sạch cái khổ sinh tử, khiến cho được năm đức, lên tới cõi an lạc vô vi. Khi ta nhập diệt rồi, kinh đạo sẽ mất dần, loài người dua nịnh dối trá, trờ lại làm mọi sự dữ, nên bị năm sự dốt, năm sự đau y như trước kia. Càng lâu về sau, càng thêm cực khổ, nói không thể hết. Ðó là ta chỉ nói sơ qua cho các ngươi nghe, các ngươi nên suy nghĩ cho kỹ, khuyên bảo lẫn nhau, theo như kinh pháp Phật, dạy mà tu hành, không được trái phạm.
Bấy giờ Bồ Tát Di Lặc, chấp tay bạch rằng: Những lời Phật dạy rất đúng, người đời quả thật như vậy. Như Lai lòng từ thương xót chúng sinh, khiến cho hết thảy đều được độ thoát. Chúng con xin ghi nhận lời dạy quý trọng của Phật, chẳng dám trái sai.
Phật bảo A Nan: Ông hãy đứng dậy, sửa lại y phục, chấp tay cung kính, đỉnh lễ Ðức Phật Vô Lượng Thọ. Mười phương cõi nước chư Phật Như Lai, thường cũng ngợi khen Phật Vô Lượng Thọ không ngừng không ngớt.
Bấy giờ A Nan đứng dậy, sửa lại y phục, thẳng mình hướng về phía Tây, cung kính chấp tay, năm vóc sát đất, đỉnh lễ Ðức Phật Vô Lượng Thọ. Bạch rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Con nguyện được thấy Ðức Phật Vô Lượng Thọ ở cõi nước An Lạc, và các đại chúng Bồ Tát, Thanh Văn”. Bạch xong, tức thời Ðức Phật Vô Lượng Thọ buông hào quang sáng lớn, soi khắp tất cả thế giới chư Phật, lần lượt núi Kim Cương, núi Tu Di, các núi lớn nhỏ, cung điện, trời, người, đều cùng hiện ra hết cả. Ví như nước lớn, tràn ngập thế giới, muôn vật trong đó, chìm đắm chẳng hiện, chỉ thấy nước lớn, mênh mông bát ngát, ánh hào quang sáng của Ðức Phật kia, cũng giống như thế. Tất cả ánh hào quang của Bồ Tát, Thanh Văn, đều bị che mờ bởi ánh hào quang rực rỡ của Ðức Phật.
Bấy giờ A Nan và tứ chúng, liền trông thấy Ðức Phật Vô Lượng Thọ, oai đức cao vời, như núi Tu Di, cao hơn tất cả trong các thế giới. Nương theo ánh sáng hào quang vô cùng mầu nhiệm của Ðức Phật Vô Lượng Thọ, các Bồ Tát, Thanh Văn, Trời, Người bên cõi Cực Lạc cũng thấy được rõ ràng Ðức Phật Thích Ca ở cõi Ta bà đang vì đại chúng mà thuyết pháp.
Lúc ấy, Phật hỏi A Nan và Từ Thị Bồ Tát rằng:
Trong cõi nước kia, từ mặt đất trở lên, đến cõi Trời Tịnh Cư, trong đó có những vật mầu nhiệm, thanh tịnh, tự nhiên, các ông trông thấy hết không?
A Nan đáp: Dạ, chúng con đã thấy.
Các ông có nghe tiếng lớn của Ðức Phật Vô Lượng Thọ truyền đi khắp tất cả thế giới để giáo hóa chúng sinh chăng?
A Nan đáp: Dạ, chúng con đã nghe!
Các ông có thấy nhân dân cõi nước kia, nương nơi cung điện Thất bảo rộng lớn trăm ngàn do tuần, đi khắp mười phưong cúng dường chư Phật, mà không bị trở ngại chăng?
A Nan đáp: Dạ, chúng con đã thấy.
Các ông có thấy, nhân dân cõi nước kia, có loài thai sinh chăng?
A Nan đáp: Dạ, chúng con đã thấy. Loài thai sinh đó, ở nơi cung điện, rộng trăm do tuần, hoặc năm trăm do tuần, họ thụ hưởng mọi sự khoái lạc, tự nhiên như trên cõi Trời Ðao Lợi vậy.
Bấy giờ, Từ Thị Bồ Tát bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì, nhân dân nước kia, người thì thai sinh, kẻ lại hóa sinh?
Phật bảo Từ Thị: Nếu có chúng sinh, tu các công đức, nguyện sinh về cõi kia, nhưng đem lòng ngờ vực, thì chẳng rõ được trí của Phật, trí chẳng thể nghĩ bàn, trí chẳng thể ngợi khen, trí đại thặng rộng lớn, trí trên hơn hết, không có trí nào sánh bằng. Ðối với các thứ trí ấy, ngờ vực chẳng tin. Song còn biết tin tội tin phúc, tu tập điều lành, nguyện sinh về cõi Cực Lạc.
Những chúng sinh đó, khi mệnh chung lại được sinh nơi cung điện kia, thọ năm trăm tuổi, thường chẳng thấy Phật, chẳng nghe kinh Pháp, chẳng thấy Bồ Tát, Thanh Văn, Thánh chúng. Bởi thế, ở cõi nước kia, gọi là thai sinh. Nếu có chúng sinh, tin rõ Phật trí cho đến Thắng trí, làm mọi công đức, lòng tin hồi hướng, sẽ được hóa sinh, trong hoa Thất bảo, ngồi xếp bằng tròn, trong khoảng giây phút, thân tướng trang nghiêm, công đức trí tuệ, đều trọn đủ cả, như các Bồ Tát vậy.
Lại nữa, Từ Thị, các Ðại Bồ Tát ở phương khác, phát tâm muốn được thấy Ðức Phật Vô Lượng Thọ và các chúng Bồ Tát, Thanh Văn bên nước của Ngài, để cung kính cúng dường, thì các Bồ Tát ấy, khi mệnh chung được sinh về cõi Phật Vô Lượng Thọ, tự nhiên hóa sinh, trong hoa Thất bảo. Di Lặc nên biết: Bậc hóa sinh, thì có trí tuệ rộng lớn. Còn hạng thai sinh thì trí tuệ thấp kém, trong năm trăm năm chẳng được thấy Phật, chẳng nghe kinh Pháp, chẳng thấy Bồ Tát, các chúng Thanh Văn; không được cúng dường chư Phật, chẳng biết phép tắc Bồ Tát, chẳng được tu tập công đức. Hạng người này, bởi đời trước không có trí tuệ, ngờ vực trong lúc tu nhân, nên hậu quả là như vậy.
Phật bảo Di Lặc: Ví như Chuyển Luân Thánh Vương, có nhà tù bằng bảy tứ báu, trang hoàng đẹp đẽ, trần thiết giường mùng, treo các dây lọng. Nếu có Thái tử, phạm tội với Vua, liền bị giam vào trong đó, cột bằng khóa vàng, rồi cung cấp cho mọi thứ: cơm nước, áo quần, giường nệm, hao hương, kỹ nhạc, giống như Vua Chuyển Luân, không htiếu thứ gì. Vậy theo ý ông, các vị Thái Tử có thích ở nơi ấy chăng?
Bạch Ðức Thế Tôn! Chắc hẳn không thích. Chỉ muốn tìm đủ mọi cách, cầu mọi thế lực, mong được ra khỏi chốn ấy.
Phật bảo Di Lặc: Chúng sinh tu phúc, cũng giống như thế, vì còn ngờ vực, trí tuệ của Phật, nên tuy sinh vào cung điện bảy báu, không có hình phạt, không có khổ sở. Nhưng trong năm trăm năm, chẳng thấy Tam Bảo, chẳng được cúng dường, chẳng được tu các nhân lành, nên lấy đó làm khổ. Tuy vui có thừa, nhưng cũng chẳng vui bằng cõi Phật Vô Lượng Thọ. Nếu chúng sinh ấy, biết được lỗi mình, ăn năn tự trách, cầu lìa khỏi đấy liền được như ý, dần được đến chỗ cõi Phật Vô Lượng Thọ và vô lượng vô số các cõi Phật khác, cung kính cúng dường và tu mọi công đức. Di Lặc nên biết: Hễ có Bồ Tát nào sinh tâm ngờ vực, là mất lợi lớn. Vì thế, nên phải hiểu rõ và tin tưởng vào trí tuệ tuyệt vời của chư Phật.
Bồ Tát Di Lặc bạch Phật rằng:
Bạch Ðức Thế Tôn! Ở thế giới Ta bà có được bao nhiêu vị Bất Thoái Bồ Tát, sinh về cõi Phật Vô Lượng Thọ?
Phật bảo Di Lặc: Ở thế giới này, có sáu mươi bảy ức vị Bất Thoái Bồ Tát, vãng sinh sang cõi nước ấy. Mỗi một vị Bồ Tát đã từng cúng dường vô số chư Phật, gần bằng sự cúng dường của Di Lặc vậy. Còn các Tiểu hạnh Bồ Tát và người tu tập công đức còn ít, thì số vãng sinh chẳng thể kể xiết.
Chẳng những ở cõi ta, mà các cõi Phật phương khác cũng đều có các Bồ Tát vãng sinh sang cõi Cực Lạc.
Một là cõi Phật Viễn Chiếu, cõi ấy có một trăm tám mươi ức Bồ Tát, đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Hai là cõi Phật Bảo Tạng, cõi ấy có chín mươi ức Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Ba là cõi Phật Vô Lượng Âm, cõi ấy có hai trăm hai mươi ức Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Bốn là cõi Phật Cam Lộ Vị, cõi ấy có hai trăm năm mươi Bồ Tát, đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Năm là cõi Phật Long Thắng, cõi ấy có mười bốn ức Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Sáu là cõi Phật Thắng Lực, cõi ấy có một vạn bốn ngàn Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Bảy là cõi Phật Sư Tử, cõi ấy có năm trăm Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Tám là cõi Phật Ly Cấu Quang, cõi ấy có tám mươi ức Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Chín là cõi Phật Ðức Thủ, cõi ấy có sáu mươi ức Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Mười là cõi Phật Diệu Ðức Sơn, cõi ấy có sáu mươi ức Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Mười một là cõi Phật Nhân Vương, cõi ấy có mười ức Bồ Tát đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Mười hai là cõi Phật Vô Thượng Hoa, cõi ấy có vô số các bậc Bất Thoái Bồ Tát, trí tuệ dũng mãnh, đã từng cúng dường vô số chư Phật, Chỉ trong bảy ngày mà thu nhiếp, được các pháp kiên cố của các Ðại Sĩ, đã từng tu tập trăm ngàn ức kiếp. Các Bồ Tát ấy đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Mười ba là cõi Phật Vô Úy, cõi ấy có bảy trăm chín mươi ức Ðại Bồ Tát, còn Tiểu Bồ Tát và các Tỳ Kheo, chẳng thể kể xiết, đã được vãng sinh sang cõi nước ấy.
Phật bảo Di Lặc: Chẳng những chỉ có các vị Bồ Tát trong mười bốn cõi Phật ấy được vãng sinh, mà còn rất nhiều Bồ Tát ở mười phương thế giới, cõi Phật số được vãng sinh, cũng nhiều như vậy. Nay ta chỉ nói lược danh hiệu chư Phật mười phương và các Bồ Tát, Tỳ Kheo, được sinh sang cõi ấy. Nếu nói rộng ra, thì suốt đêm ngày, trong cả một kiếp, cũng không thể hết được.
Phật bảo Di Lặc: Nếu có người được nghe danh hiệu của Ðức Phật Vô Lượng Thọ, sinh tâm vui mừng, chỉ trong một niệm, cũng biết người ấy, được lợi ích lớn, công đức tròn đầy.
Này Di Lặc! Nếu có lửa dữ, đầy khắp ba ngàn Ðại thiên thế giới, gắng sức vượt qua, được nghe Kinh này, vui mừng tin ưa, chịu giữ đọc tụng, theo như Phật dạy mà tu hành, thì được lợi ích không thể kể xiết.
Vì sao vậy?
Vì có nhiều Bồ Tát, muốn được nghe Kinh này, mà chẳng được nghe. Nếu lại có người, được nghe Kinh này, thì đạo Vô thượng, quyết không lui chuyển. Do đó, nên phải chuyên tâm tin chịu, trì tụng, khiến được thấy Phật Vô Lượng Thọ và tất cả cảnh vật kỳ diệu ở cõi nước Cực Lạc.
Nay Như Lai vì chúng sinh mà nói Kinh này, nếu làm điều gì, trước nên cầu thỉnh và thực hành ngay. Ðừng để khi ta diệt độ rồi, lại sinh tâm ngờ vực.
Như Lai đem lòng từ bi thương xót nói cho ông rõ: Về đời Mạt pháp, Kinh giáo diệt hết, chỉ còn riêng Kinh này, trụ lại một trăm năm, nếu có người nào, gặp được Kinh này, tùy theo ý nguyện, đều được độ thoát.
Phật bảo Di Lặc: Như Lai ra đời, khó gặp khó thấy, Kinh giáo của Phật, khó được khó nghe, thắng pháp của Bồ Tát, các pháp Ba La Mật, cũng khó được nghe; gặp bậc thiện tri thức, được nghe Pháp mà tu hành, cũng lại là rất khó. Nếu người nghe Kinh này, mà tín tâm chịu giữ, thì lại càng khó, chẳng gì khó hơn. Vì thế, Pháp của Như Lai, làm như vậy, nói như vậy, dạy như vậy, phải tin theo, đúng pháp mà tu hành.
Khi Ðức Thế Tôn nói Kinh này, vô số chúng sinh nghe rồi, đều phát tâm Vô thượng Chính giác. Một vạn hai ngàn na do tha ngưòi được Pháp nhãn thanh tịnh, hai mươi ức chư Thiên nhân dân được quả A La Hán, tám mươi vạn Tỳ Kheo được Lậu Tận Ý Giải, bốn mươi ức Bồ Tát được ngôi Bất thoái chuyển; rồi đem công đức thệ nguyện rộng lớn mà trang nghiêm cho mình, đến đời sau này, thì thành Bậc Chính Giác.
Lúc ấy, ba ngàn Ðại Thiên thế giới, sáu thứ chấn động, ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương các cõi nước, trăm ngàn âm nhạc tự nhiên trỗi lên, vô số hoa thơm ngào ngạt, từ trên không rải xuống.
Phật nói Kinh này xong, Bồ Tát Di Lặc và các Bồ Tát ở mười phương lại, Trưởng Lão A Nan, các đại Thanh Văn và tất cả đại chúng đều vui mừng tin chịu vâng làm.
(Hết)
Dịch Việt: HT. Thích Tuệ Đăng
