Tu đại hạnh và Hoa Nghiêm niệm Phật tam muội

Tu đại hạnh

Tu Đại Hạnh. Phải chuyên cần tu Lục độ vạn hạnh, đó là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, bát nhã.

(1) Bố thí.

Đầu tiên là phải bố thí, bố thí cho người, chứ không phải muốn người bố thí lại cho mình. Có người luôn miệng giảng về “bố thí”, là để kêu gọi người khác bố thí cho mình, trong khi bản thân thì không bố thí cho người khác; đây chính là không chỉ không đủ tư cách làm Bồ tát, mà ngay cả làm La Hán cũng không xứng đáng! Bố thí có 3 loại là: Tài thí, pháp thí và vô úy thí.

Tài thí, lại chia ra “nội tài” và “ngoại tài”. Ngoại tài là chỉ cho tất cả châu báu, đất nước và vợ con; những thứ này đều có thể bố thí cho người. Căn bản hành Bồ tát đạo là không thấy có “người”, không thấy có “ta”, cho nên cái của tôi cũng là của quý vị; cái của quý quý vị, tôi cũng không nhất thiết muốn có. Do không phân biệt tướng nhân tướng ngã, nên Bồ tát có thể xả bỏ đất nước, xả bỏ gia đình, thậm chí đến vợ con cũng không màng! Giống như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vốn sẽ làm hoàng đế, nhưng Đức Phật không làm, lại đi làm hòa thượng. Đức Phật vốn có ba người vợ rất xinh đẹp, Ngài đều bỏ hết. Bỏ đi sự vinh quang của một vị quốc vương, đến núi Tuyết tu đạo. Nội tài chính là cái mà bản thân quý vị có. Giống như đầu, có người cần cái đầu này phải không? Chỉ cần quý vị muốn, Bồ tát đều cho hết. Mắt, có người cần cặp mắt này chứ gì? Bồ tát liền bố thí cho người đó. Đầu, mắt, não, tủy, da, máu, thịt, gân, xương bất kỳ bộ phận nào trên thân, Bồ tát cũng đều có thể bố thí cho người.

Pháp thí (bố thí pháp), chính là thuyết pháp làm lợi ích cho chúng sanh; thuyết giảng Phật pháp, giáo hóa hết thảy chúng sanh. Nên nói “Chư cúng dường trung, pháp cúng dường tối”, trong tất cả các cách cúng dường, cúng dường pháp là cao thượng nhất. Cúng dường pháp là tuyên dương rộng rãi Phật pháp cho tất cả mọi người biết; cho nên người học Phật pháp đều phải học cách thuyết giảng kinh pháp, không nên “hoài bảo mê bang”. Thế nào gọi là hoài bảo mê bang? Chính là tự mình mang theo rất nhiều châu báu, đến ở trong đất nước này cũng không chịu cứu tế cho dân nghèo, khiến cho những người dân nghèo này đều bị chết đói. Chúng ta là người biết Phật pháp, nhất định phải đem Phật pháp giới thiệu cho mọi người nghe; tôi biết một chút, tôi sẽ giảng cho người nghe một chút; biết được mười phần sẽ giảng mười phần. Tôi vốn biết Phật pháp, sẽ đi thuyết giảng Phật pháp cho mọi người, đây gọi là pháp thí – mang pháp này đến bố thí cho người.

Vô úy thí (bố thí sự không sợ hãi), tức là mỗi người chúng ta đều sẽ có lúc gặp phải tai bay họa gởi, khiến cho quý vị vô cùng sợ hãi; người ta đang trong lúc sợ hãi, quý vị đến an ủi họ: “Anh không nên sợ! không nên căng thẳng, mọi việc đều có cảm ứng. Tâm của anh tốt như vậy, tương lai nhất định sẽ không có quả báo gì xấu đâu!” Làm cho người đó không còn tâm trạng sợ hãi, đây gọi là Vô úy thí.

(2) Trì giới.

Mỗi người chúng ta đều biết có năm giới, tám giới, mười giới, mười giới nặng bốn mươi tám giới nhẹ, Tỳ kheo hai trăm năm mươi giới, Tỳ kheo ni ba trăm bốn mươi tám giới; giới luật có nhiều loại phải giữ như thế.

(3) Nhẫn nhục.

Nhẫn nhục này là một phương pháp tốt nhất, nếu quý vị nhẫn nhục được thì quý vị sẽ có bảo bối. Nên nói “Nhẫn thị vô giá bảo, nhân nhân sử bất hảo”, “nhẫn” này là món châu báu vô giá; nhưng vật báu vô giá này, không ai biết dùng cả. Vì sao thế? Vì nhẫn một lần thì còn có thể nhẫn, nhẫn hai lần thì miễn cưỡng, nhẫn ba lần thì nổi nóng lên: “Hừ! Tại sao anh ăn hiếp tôi như thế? Anh cho rằng tôi sợ anh sao? Chẳng qua là tôi nhịn anh thôi! Anh ăn hiếp tôi như thế hết lần này đến lần khác, được nước lấn tới, đó chẳng phải đuổi giết tận gốc hay sao? Anh thật quá đáng!” Nổi nóng lên, liền tranh đấu lại. Đó là vì không áp dụng được chữ “nhẫn” này.

Hình như trước kia tôi đã giảng qua, có một vị Hòa thượng tu hạnh nhẫn nhục, trước cửa phòng Hòa thượng có treo một tấm biển đề ba chữ “Tánh như hôi”; ý nói tánh nguội lạnh giống như tro tàn vậy, một chút nóng giận cũng không có. Suốt ngày Hòa thượng ở trong đó dụng công tu hành, không hề biết nổi giận, tánh tình trở nên rất nhu hòa, linh hoạt giống như nước vậy. Bấy giờ có một vị Bồ tát đến thử Hòa thượng này.

Đến nơi, Bồ tát hỏi: “Mấy chữ này của Hòa thượng viết là chữ gì vậy?” Hòa thượng đáp: “Tánh như hôi”. Vài phút sau, người này lại hỏi: “Mấy chữ này của Hòa thượng viết là chữ gì vậy?” Hòa thượng lại đáp: “Tánh như hôi”. Chẳng được mấy chốc, người này lại hỏi tiếp: “Mấy chữ này của Hòa thượng là chữ gì vậy? Con nhớ không rõ!” Hòa thượng đáp: “Tánh như hôi”. Người này cứ thế mà hỏi khoảng mấy chục, mấy trăm lần, cuối cùng đã làm phát khởi được sự sân hận trong con người Hòa thượng: “Tánh như hôi, tánh như hôi! Sao ngươi cứ lải nhải hoài thế, Ta ở đây tu đạo, ngươi đến làm phiền ta mãi!” Người này bảo: “Ồ! Thì ra trong tro vẫn còn lửa!” Nói xong, Bồ tát liền vọt thân bay lên hư không; vị Bồ tát này vốn là vị nào vậy? Đó là Bồ tát Quán Thế Âm đến thử Hòa thượng. Kết quả lần này cho thấy, tu hành “Tánh như hôi” mấy chục năm trời, Bồ tát Quán Âm vừa đến thử thì đã rớt. Bồ tát Quán Thế Âm bảo: “Ông phải gia công tu tiếp nhé! Đợi hai mươi năm sau, ta sẽ lại đến thử ông đó!” Quý vị xem, tu hạnh nhẫn nhục không phải dễ; nhẫn, chính là phải không còn một chút tánh nóng nào.

Lúc trước, khi còn làm một người đệ tử, tôi không bao giờ dám nổi giận; cho dù ở trước hay không ở trước mặt sư phụ, tôi đều không dám nổi giận. Vì sao vậy? Vì vị sư phụ đó của tôi, không hề có tánh xấu giống như tôi, sư phụ rất mực từ bi. Nếu như thấy tôi nổi nóng, sư phụ liền không dùng cơm; sư phụ bảo: “Ta giáo hóa đệ tử, nhưng chưa dạy dỗ tốt! A! Ta không đáng ăn cơm.” Vì sư phụ không dùng cơm, cho nên tôi cũng không dám nổi nóng nữa.

Thế thì tôi có tánh nóng giận không? Tánh nóng giận của tôi lớn hơn bất kỳ người nào, người nóng tánh nhất cũng không bằng tôi; nhưng vì đã xuất gia tu hành, nên tôi đã sửa đổi tánh xấu này. Hiện tại đến nước Mỹ, mới thâu nhận vào ba đệ tử người Mỹ, những người Mỹ này, vốn khi chưa xuất gia đều không có tánh nóng giận; vừa xuất gia xong, chưa học cách đùm bọc lẫn nhau thì lại học được cách nổi nóng, biết nổi nóng. Hôm qua, có hai người đệ tử đến chỗ tôi nhờ phân xử; người này nói người kia nổi nóng, người kia nói người này nổi nóng. Rốt cuộc ai nổi nóng? Tôi cũng không quan tâm! Lần này tôi đưa ra một quy luật.

Quy luật như thế nào? Là tôi không quan tâm ai nổi nóng, ai phải, ai quấy, tóm lại người nào nổi nóng thì phải quỳ gối trước Phật một ngày một đêm, trong suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ không được phép đứng dậy, không được phép đi đại tiện hay tiểu tiện, không được phép ăn cơm, không được phép uống nước, không được phép ngủ nghỉ. Đây là quy luật tôi đưa ra, nếu như quý vị không chấp hành theo, không chịu quỳ gối trước Phật, tôi sẽ đến quỳ thế cho quý vị, tôi sẽ làm đúng như quy luật đã đưa ra. Quý vị thử xem! Nhưng không chỉ một người quỳ, vậy phải như thế nào? Bất luận là người nào nổi nóng – hiện tại tôi có ba đệ tử người Mỹ, thì cả ba phải cùng quỳ; cho dù hai người kia không có nổi nóng, cũng phải quỳ theo. Có người hỏi: Một người nổi nóng, hai người phải quỳ theo? Điều này chẳng công bằng tí nào! Phải không công bằng như thế! Nếu nói công bằng, thì trên thế gian này không có việc gì công bằng cả. Nếu như quý vị sợ, thì mọi người đều không nên nổi nóng. Nếu giấu không cho tôi biết ai đã nổi nóng, thì cũng bị phạt như thế. Quý vị không cho tôi biết à? Tôi có thiên lý nhãn, có thuận phong nhĩ, sẽ có người bảo cho tôi biết. Lúc đó, quý vị phải chấp hành theo quy luật. Tất cả đều nghe rõ cả chứ? Đây cũng là một cách tu tập “hạnh nhẫn”.

Vì sao lại bắt quý vị quỳ? Không cho ăn, không cho uống, không cho ngủ, đó cũng là một cách “tu tập hạnh nhẫn”. Chẳng phải quý vị còn nổi nóng sao? Người có tánh nóng, nên tu tập “nhẫn” này. Đây cũng là một “hạnh nhẫn” – quỳ gối trước Phật, phải nhẫn sự đau đớn của đầu gối. Bây giờ quý vị đều nghe rõ cả rồi chứ? Nghe rõ cả rồi thì sau đó sẽ lập ra hiến pháp. “Vị sư phụ này thật là lợi hại! Tôi cũng không dám xuất gia với ông ta.” Có vài người muốn xuất gia, rốt cuộc lại không dám xuất gia. Nếu như quý vị sợ thì đừng nổi nóng, sẽ chẳng có việc gì. Đây không phải là quy luật do tôi lập ra, mà đây là người có lỗi tự chuốc lấy; quỳ hay không quỳ là tại người đó, chứ không phải tại tôi.

Vì sao phải lập ra quy luật này? Nếu như tôi không lập ra thì sau này có nhiều đệ tử rồi, anh đánh tôi, tôi đánh anh, người này đến nhờ phân xử, người kia cũng đến chỗ sư phụ, phải nói ai đúng, ai sai đây, ngay cả tòa án suốt ngày cũng không xử xong những việc rắc rối như thế. Người tu đạo, làm sao có thể nóng giận được chứ? Không thể được. Nếu như có đệ tử, vì việc dạy dỗ mà quý vị nổi giận với đệ tử, việc đó vẫn còn có thể thông cảm; đằng này lại nổi nóng với các sư huynh đệ thì không thể được. Cho nên nói: “Nhẫn là vật báu vô giá, nhưng không ai biết cách sử dụng; nếu ai có thể sử dụng được nó, thì mọi việc đều trở nên tốt đẹp.” Nếu quý vị biết cách áp dụng chữ “nhẫn” này thì mọi việc đều sẽ tốt đẹp, nếu không biết cách áp dụng chữ “nhẫn” này thì việc gì cũng đều gây ra lầm lỗi.

(4) Tinh tấn.

Tinh tấn có “thân tinh tấn” và “tâm tinh tấn”Thân tinh tấn là chỉ cho sự dụng công tu hành như lễ Phật, tụng kinh, trì chú v.v..mỗi một thời một khắc đều không giải đãi, cũng không ngủ nhiều. Tâm tinh tấn chính là niệm ở đâu tâm ở đó, “chuyên cần tu giới định tuệ, diệt trừ tham sân si”, dọn sạch tâm tham, tâm sân, tâm si trong lòng; quý vị phải tinh tấn, sau mới có thể tu hành, tham thiền tĩnh tọa. Làm người tu không phải dễ, không thể ngày ngày nằm ngủ, phải đêm ngày tinh tấn, tinh tấn dụng công một cách thật sự; không thể nói toàn tu cho người khác, gọi người ta đến xem mình dụng công tu hành. Có người nhìn thấy, hay không có người nhìn thấy, đều phải dụng công tu; dụng công tu hành là tu cho mình, chớ không phải tu cho người khác xem.

(5) Thiền định.

Chính là phải ra công tham thiền tĩnh tọa, tu tập thiền định. Để tham thiền tĩnh tọa, cần phải có sự tinh tấn hỗ trợ. Nếu quý vị không tinh tấn, hôm nay hoa sen, ngày mai lại hoa mẫu đơn, luôn luôn thay đổi. Cho nên nói “Nhất nhật bộc chi, thập nhật hàn chi” (một ngày phơi nóng, mười ngày để lạnh), giống như đồ vật, quý vị phơi nó một ngày, lại để đông lạnh mười ngày, như thế có lợi ích gì? Tu hành cũng thế, quý vị tu một ngày, lại nghỉ mười ngày; “tu và nghỉ” đều có âm tiếng Hoa là “xiu”, nhưng một cái là “xiu” của “xiu xing” (tu hành), một cái là “xiu” của “xiu xi” (nghỉ ngơi); tu hành như thế thì không thể đạt được công phu của thiền định.

(6) Bát nhã.

Bát nhã độ cũng là cái quan trọng nhất, chúng ta tu hành nhất thiết phải có trí tuệ; nếu không có trí tuệ thì cũng không có cách nào để tu hành. Người ngu si tu hành, dụng công tiến về phía trước, cho dù dụng công như thế nào cũng không thể thành công; người có trí tuệ thì cho dù ở đâu, lúc nào cũng đều là dụng công, đều thấy được bát nhã thực sự. Cho nên nói “Thúy trúc hoàng hoa, vô phi bát nhã” (trúc biếc hoa vàng, không cái nào chẳng phải là bát nhã); người ấy nhìn thấy cái gì cũng đều là trí tuệ. Giống như Quả Ninh thưa với tôi là: Quả Hiện nói Quả Ninh vừa mở miệng ra là mắng Quả Hiện. Mắng “ai”? Đây há chẳng là ngu si sao? Nếu là người có trí tuệ thì làm sao bị người ta mắng? Cho dù Quả Ninh có mắng Quả Hiện, nếu Quả Hiện là người có trí tuệ thì sẽ không tiếp nhận lời mắng ấy, lời mắng này sẽ trở về lại chủ nhân của nó.

Trong “Kinh Tứ Thập Nhị Chương” nói, có người chửi Phật, Phật vẫn thản nhiên và bảo người ấy: “Ngươi chửi Như Lai, Như Lai không tiếp nhận, thì lời chửi ấy sẽ trở về với ngươi! Giống như ngẩng mặt lên trời mà phun nước bọt, thì bãi nước bọt này sẽ rơi trở lại trên mặt của ngươi!” Cho nên không cần bảo người ta đừng chửi quý vị, cho dù người ta có chửi, nếu quý vị không nhận, thì lời chửi ấy xem như không có. Khi người ta chửi quý vị, quý vị nghe và cho rằng: “Ồ! Anh ta đang hát cho mình nghe.” Hoặc “Ồ! Mình không biết anh ta đang chửi. Anh ta đang nói tiếng Nhật? Hoặc đang nói tiếng Hoa? Lại càng không phải nói tiếng Pháp?” Vì lời anh ta nói, quý vị không hiểu, nên xem như không có chuyện gì; như vậy mới chính là có trí tuệ thật sự! Nếu quý vị hiểu được “anh ta chửi mình”, xét cho cùng “mình” là ai? Đã là Bồ tát thì không còn “tướng mình, tướng người, tướng chúng sanh và tướng thọ giả”, thế tại sao vẫn còn một cái “tôi” chứ? Người xuất gia phải quăng bỏ cái “tôi” này xuống biển Thái Bình Dương, không cần đến nó nữa; phải không còn có cái “tôi”, thế mới được!

Đây là “Tu đại hạnh” thứ năm; đang giảng về phần tu “Lục độ”, ngoài ra lại có “Vạn hạnh; Vạn hạnh là ý nói Bồ tát thực hành nhiều pháp môn. Nếu nói tường tận hơn thì không dừng lại ở “Vạn hạnh”, pháp môn thực hành có đến tám vạn bốn ngàn loại; nhưng do điều kiện thời gian giới hạn, nên tôi không thể phân tích từng cái một.

Bây giờ chúng ta giảng đến “ba tâm”. Bồ tát phải “quét sạch ba tâm, không còn bốn tướng” (tảo tam tâm, phi tứ tướng). Tảo, giống như trên đất có bụi, dùng một cây chổi, quét sạch những bụi bặm đó. Chúng ta cũng nên quét sạch ba tâm này của mình. Ba tâm gồm những tâm gì? Đó là tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai. Tâm quá khứ, đã đi qua; mà đã đi qua thì sẽ không còn “đi qua” nữa. Tâm hiện tại, quý vị nói bây giờ là hiện tại phải không? Nhưng hiện tại thì không dừng lại, cho nên cái “hiện tại” này cũng đi qua và trở thành “quá khứ”. Cái quá khứ thì đã đi qua; cái hiện tại thì không dừng lại; quý vị bảo còn “tâm vị lai”, tâm vị lai thì vẫn chưa đến! Đã chưa đến thì quý vị đi tìm tâm vị lai này ở đâu? Cho nên nói: “Tâm quá khứ không thể đạt được, tâm hiện tại không thể đạt được và tâm vị lai cũng không thể đạt được” (quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm dã bất khả đắc). Nếu như ba tâm “quá khứ, hiện tại, vị lai” này quý vị đều không thể đạt được, thì còn có gì đáng để chấp vào chứ? Không có gì đáng để chấp vào cả, chính là đạt được giải thoát; quý vị đạt được giải thoát, đó mới là tự do thật sự.

Bồ tát còn phải thực hành “Tứ nhiếp pháp”, Tứ nhiếp pháp gồm những gì? Đó là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.

(1) Bố thí.

Bồ tát phải luôn có tâm bố thí. Bố thí là cho cùng khắp tất cả chúng sanh; bố thí có “tài thí, pháp thí và vô úy thí”.

(2) Ái ngữ.

Bồ tát phải thực hành lời nói từ ái; nhưng phải là Bồ tát thì mới có thể nói lời từ ái, còn không phải là Bồ tát thì không thể. Bồ tát nên nói lời từ ái, phải luôn có tấm lòng từ ái đối với tất cả chúng sanh. Vì sao Bồ tát có tấm lòng từ ái? Vì Bồ tát không còn tướng ngã, Bồ tát xem tất cả chúng sanh cùng với mình không khác. Không chỉ xem chúng sanh giống như mình, mà mình cũng giống như tất cả chúng sanh; không chỉ giống mà còn trở thành một, không còn sự phân chia giữa ta và người; cho nên Bồ tát sẵn lòng cứu độ tất cả chúng sanh, cũng là cứu độ cho chính mình. Ái ngữ chính là luôn có lời nói từ ái với tất cả chúng sanh.

(3) Lợi hành.

Tất cả chúng sanh đều thích lợi ích, cho nên đối với chúng sanh, quý vị luôn phải đem lại một chút lợi ích cho họ; việc làm có lợi ích rất nhiều rất nhiều, những việc làm nào mang lại lợi ích cho chúng sanh, Bồ tát đều nên đi làm.

(4) Đồng sự.

Bồ tát nên hóa ra ngàn vạn ức thân, nhìn thấy loại chúng sanh nào cần thì hiện ra thân đó đến độ. Bồ tát sẽ biến hóa ra loại thân này để đi độ loại chúng sanh này. Bởi vậy mà khi Đức Pật Thích Ca Mâu Ni còn đang hành đạo Bồ tát, phải độ loài hươu thì Phật sẽ biến thành hươu đi độ chúng, những biến hóa này đều là một cách của “đồng sự”.

Hành đạo Bồ tát là phải nan hành năng hành, những việc vốn không dễ làm mà quý vị đi làm, đó là đang hành đạo Bồ tát. Nan xả năng xả, những vật không dễ xả bỏ mà quý vị phải xả bỏ cho được; những đồ đạc và tài sản vật báu càng khó bỏ, nếu quý vị bỏ được, đó mới thật là “nan xả năng xả”. Nan nhẫn năng nhẫn, những việc không dễ nhẫn mà phải nhẫn, đây là một hạnh trong những đại hạnh cần phải tu của Bồ tát đạo. Nan nhượng năng nhượng, những việc không thể nhường mà quý vị cũng có thể nhường. Tôi thường nói: “Phải ăn những thứ mà người ta không thể ăn, phải tiếp nhận những cái mà người ta không thể tiếp nhận.” Ăn những thứ mà người ta không thể ăn, không hề có ý nói là những thức ăn người ta chưa ăn, tôi phải ăn trước; cũng không phải nói những thức ăn quý hiếm nhất trên thế gian này, chưa ai được ăn, tôi phải ăn trước! Không phải có ý như thế; mà là những thứ người ta không thích ăn, Bồ tát đều có thể ăn.

Tôi bảo các vị, tôi không phải là Bồ tát, nhưng tôi cũng có thể ăn những món mà người ta không muốn ăn. Việc đó là như thế nào? Tôi nhớ một việc vào mùa đông năm đó, khi tôi 17 tuổi, ở phương Bắc của tôi có một “Hội Đạo Đức”; hội Đạo Đức này chuyên giảng về đạo đức, nói về nhân nghĩa.

Năm tôi 16 tuổi đã tham gia vào hội Đạo Đức, năm 17 tuổi làm chủ nhiệm lớp thực tập giảng; chủ nhiệm lớp thực tập giảng tức là làm giáo thọ, làm giáo thọ cho tất cả học viên. Tuổi của tôi rất trẻ, học sinh thì có khoảng 60-70 người, những nam nữ học viên từ 40-50 tuổi, 50-60 tuổi đều có. Hội Đạo Đức giảng là phải tiết kiệm, tức phải dè sẻn, vật gì cũng đều phải dè sẻn. Phải tiết kiệm đến mức độ nào? Ăn thì ăn khoai tây, không phải loại khoai tây ngọt, mà là loại khoai tây thông thường. Khi ăn khoai tây, bình thường người ta ăn khoai tây, vốn không ăn vỏ nên vỏ được lột ra, những vỏ khoai này đều không ăn; những người ở hội Đạo Đức đều giảng về đạo đức là phải ăn những thứ mà người ta không thể ăn. Thế nên tôi bảo với mỗi học viên: “Mỗi một người chúng ta đều phải ăn vỏ khoai tây, không được nhổ ra; phải ép mình một chút, ăn hết những vỏ khoai. Những vật mà chúng ta không thể ăn cũng phải ăn, thể hiện được chúng ta cũng có công phu thực hành.”

Do tôi giảng như thế, nên tôi cũng ăn những vỏ khoai này, nhưng những học viên thông thường thì sao? Có người nghe tôi nói giống như gió thổi bên tai, nghe mà như không nghe, vẫn nhổ vỏ khoai ra – sau khi đã nhai xong trong miệng, có người nhổ ra trên bàn, có người nhổ xuống dưới đất. Khi đang ăn cơm, mọi người đều không được nói chuyện, tôi cũng không quản nữa, tùy ý họ vậy; tôi đã tuyên bố “Không nên nhổ bỏ vỏ khoai tây” rồi, thế mà có một số học sinh vẫn nhổ bỏ như thường. Ăn cơm xong, tôi cầm một cái chén, nhặt tất cả vỏ khoai tây mà học viên đã nhổ ra trên bàn hoặc dưới đất bỏ vào trong chén và tôi đã ăn hết những vỏ khoai ấy trước mặt các học viên.

Làm một lần như thế, các học viên này đều cảm thấy ái ngại; từ đó về sau tôi thấy các học viên này không ai dám nhổ bỏ vỏ khoai tây nữa. Nếu tôi không làm như vậy, lấy bản thân làm gương mẫu thì những học viên này sẽ không được cảm hóa! Những học viên nhổ từ trong miệng ra, tôi lại dùng miệng để ăn thứ đó, khiến cho những học viên này đều cảm thấy vô cùng xấu hổ. Đây gọi là “Cái người ta không thể ăn, thì mình có thể ăn; cái người ta không thể tiếp nhận, thì mình có thể tiếp nhận”. Cái gì người ta không thể tiếp nhận được? Đó là “khí” (nóng giận)! Không ai chịu đựng được sự nóng giận. Nếu quý vị nóng giận với anh ta một chút, anh ta sẽ đùng đùng lên. Nếu như quý vị có thể nhẫn được sự nóng giận, thì có ai nổi nóng với quý vị, quý vị sẽ xem như người đó đang hát cho quý vị nghe, hoặc đang giảng ngoại ngữ, như vậy sẽ không có chuyện gì. Có thể tiếp nhận, có thể nhẫn nhục, có thể nhường nhịn, có thể xả bỏ, đây đều là những điều kiện Bồ tát nên chuẩn bị đầy đủ khi tu đại hạnh.

HT. Tuyên Hóa

Trích từ Kinh Pháp Hoa Lược Giảng

Hoa Nghiêm niệm Phật tam muội

Pháp môn Niệm Phật ước lược có hai: phổ niệm và chuyên niệm. Kinh Quán Phật Tướng Hải và kinh Phật Bất Tư Nghì Cảnh Giới dạy phổ niệm. Kinh A Sơ Bệ và kinh A Di Đà đặc biệt dạy chuyên niệm. Nay Kinh Hoa Nghiêm, một và nhiều tương nhập, chủ và bạn giao dung, tự và tha tương tức, cũng chuyên cũng phổ, lược nêu năm nghĩa:

I. – Niệm Pháp-thân Phật, trực chỉ tự tánh chúng sanh. Chân tâm chúng ta rộng lớn chu biến không nơi nào không có. Phẩm Như Lai Xuất Hiện nói: “Mười phương pháp giới niệm niệm vẫn có chư Phật thành Chánh Giác. Vì tâm Phật, tâm chúng sanh đồng thể không rời nhau nên việc này các Bồ-tát đều rõ biết”. Lại nói: “Không một chúng sanh nào không đủ trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng điên đảo chấp trước mà không chứng được. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí ắt được hiện tiền”. Làm thế nào lìa vọng tưởng? Nên biết những điên đảo chấp trước của chúng sanh bản thể vốn là Pháp-thân tịch diệt thanh tịnh. Chỗ chứng của chư Phật không chi khác là chứng được chân tánh của chúng sanh. Nếu tin được như thế thì trở về, niệm niệm không mê, không chấp ngã sở. Cứ con đường ấy khởi hành. Nơi thân không chấp ngã, chỗ tu không vướng mắc, với pháp chẳng cố trụ. Trải qua các ngôi vị Trụ, Hành, Hồi Hướng, Thập Địa, luyện đức từ bi thì đâu rời đương niệm mà nhân quả viên thành. Cho nên nói vừa phát tâm Bồ-đề liền thành Chánh Giác.

Các phẩm Hiền Thủ, Sơ Phát Tâm Công Đức rộng nói việc này. Như vậy niệm Phật sẽ thấy thân Phật ở khắp mọi nơi.

Phẩm Quang Minh Giác, đức Thế Tôn phóng trăm ức quang minh, từ ba ngàn đại thiên thế giới khắp chiếu 10 phương. Văn Thù kệ rằng: “Cứ lìa các kiến chấp, quán Như Lai, thế là nhập chánh tín”. Phẩm Xuất Hiện cũng nói: “Bồ-tát không nên nơi một pháp, một sự, một thân, một quốc độ, một chúng sanh mà thấy Như Lai. Phải thấy Như Lai như hư không, vào khắp sắc tượng, chẳng đến chẳng không đến. Vì hư không không thân. Thân Như Lai cũng thế, ở khắp nơi nơi tại khắp chúng sanh, ở hết thảy pháp, hết thảy quốc độ. Không đến chẳng phải không đến. Như Lai không thân cố định, chỉ vì chúng sanh mà hiện thân”. Lại nói: “Bồ-tát trí tuệ biết chẳng những Chân Như Thật Tế là cảnh giới Như Lai mà tất cả cảnh giới chúng sanh đều là cảnh giới Như Lai”. Đây là niệm tự tánh Phật cũng gọi tự tánh niệm Phật. Tự tánh niệm Phật là không có tâm năng niệm ngoài Phật. Niệm tự tánh Phật là không có Phật sở niệm ngoài tâm. Vào được môn này, công đức một niệm như hư không, không có hạn lượng.

Kinh Hoa Nghiêm nổi tiếng có nhẽ vì câu: “Lạ lắm thay ! Hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí tuệ đức tướng Như Lai”. Câu nói: “Tất cả chúng sanh đều thành Phật” thật là thâm diệu, thật là quan trọng. Chúng sanh luân chuyển trong 6 đạo, không luận đến mức độ nào, đều có Phật tánh. Phật tánh không bao giờ hư hoại, đồng thể, bình đẳng với 10 phương chư Phật. Niệm Pháp-thân Phật là niệm thể tánh bình đẳng ấy. Như Lai Tạng và Pháp-thân bản chất giống nhau. Chỉ khác biệt là còn phiền não trói buộc gọi là Như Lai Tạng. Lìa phiền não gọi là Như Lai Pháp-thân. Ở phàm phu gọi là Như Lai Tạng. Ở Phật gọi là Như Lai Pháp-thân. Cũng như mặt trời bị mây mù và mặt trời đã ra khỏi mây mù. Như Lai Tạng là nhân. Pháp-thân là quả. Nhân quả không 2 không khác, đều là tự tánh thanh tịnh tạng.

II. – Niệm Báo Thân và hóa thân Phật. Vô tận trang nghiêm, vô biên Phật sự lấy Phổ Quang Minh Trí làm thể. Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm nói:“Trí nhập tam thế, tất đều bình đẳng. Thân sung mãn tất cả thế gian. Âm thanh phổ thuận 10 phương quốc độ. Như hư không hàm vạn tượng không phân biệt”.

Báo thân Phật quả là công đức rốt ráo viên mãn, chứng được Vô Dư Niết bàn, đoạn hết ngũ trụ phiền não, vĩnh viễn xa lìa cả 2 sanh tử phận đoạn và biến dịch. Cảnh là thật tướng các pháp. Trí là Ðệ Nhất Nghĩa Bồ-đề.

Như Lai Tạng như châu báu bị rớt vào hầm phân. Thể tánh tuy vẫn là châu báu nhưng hiện tại đang bị bao quanh toàn nhơ uế. Phàm phu Nhị Thừa còn ở trong vòng nhị kiến (thấy 2: thấy tương đối) dẫn sanh các thứ tà kiến mê si. Đức Phật đã diệt sạch phiền não tạng nên Báo Thân đồng Pháp-thân đủ 4 đức thường, lạc, ngã, tịnh.

Kỳ thật, cứu cánh Chân Như vẫn thường hằng bất biến. Trí tuệ và công đức vô biên vẫn không lìa chân thật tức là Phật tánh (Như Lai Tạng). Đây là nơi nương tựa để có thể thành Phật. Từ cảnh trí cứu cánh của Như Lai, truy cầu căn nguyên thấy là Như Lai Tạng chúng ta vốn có. Chỉ cần xứng tánh, phát triển trí năng thì chúng ta sẽ đạt công đức Như Lai. Như Lai là mục đích cứu cánh chúng ta tiến tới. Tư tưởng chân thường diệu hữu bất không này được thể hiện và phát huy đến cực điểm trong kinh Hoa Nghiêm.

Phàm phu nghe pháp, nhập lý, được Căn Bản Trí. Nếu không y trí này khởi hạnh đại bi, viên tu viên chứng, sẽ đọa cảnh giới Nhị Thừa, chẳng được đại dụng của chư Phật. Cho nên 6 phẩm sơ hội toàn hiển Như Lai quả đức. Hội 2 đến hội 8, 32 phẩm chỉ rõ thứ lớp, thềm thang tiến bước, thẳng tới Bồ-đề. Khiến cho hành giả thiệu long trí cảnh, rốt ráo các hạnh môn, không thủ thiên không mà trang nghiêm Phật độ.

Một phẩm Phổ Hiền Tam Muội ở sơ hội chính hiển toàn thể Phật Hoa Nghiêm. Phổ Hiền Bồ-tát nhập Nhất Thiết Chư Phật Tỳ Lư Giá Na Tạng Thân Tam Muội. Tam muội này y pháp giới, xứng tánh biến chu tất cả các cõi nước nhiều như vi trần. Phẩm Thế Giới Thành Tựu và phẩm Hoa Tạng Thế Giới chỉ bày các quốc độ tịnh uế duy tâm. Với người vào sâu biển nguyện Phổ Hiền, ở ngay trần lao phồn hưng đại dụng, thì tất cả xứ chẳng đâu không phải đất Phật. Hết thảy thời, không lúc nào chẳng làm việc Phật.

Các tri thức của Thiện Tài đồng tử cầu học: Đức Vân tỳ-kheo, Giải Thoát trưởng giả, Tỳ Sắt Chi La cư sĩ đều lấy một môn niệm Phật làm phương tiện giải thoát.

Đức Vân nói: “Ta được tự tại quyết định giải lực, mắt tin thanh tịnh, trí quang chiếu diệu, khắp quán cảnh giới lìa hết thảy chướng”. Thiện xảo quan sát, phổ nhãn minh triệt là niệm Pháp Thân Phật.

“Đi khắp 10 phương hết thảy quốc độ, cung kính cúng dường tất cả chư Phật, vâng giữ hết thảy Chánh Pháp, thường thấy tất cả chư Phật” là niệm Báo Thân Phật.

Từ Pháp Thân khởi Hóa Thân. Pháp Thân đã vô lượng thì Hóa Thân cũng vô cùng. Văn dưới nói: “Thấy phương Đông vi trần số Phật. Tây, Nam, Bắc cũng thế. Đây là Ức niệm nhất thiết chư Phật cảnh giới trí tuệ quang minh phổ kiến pháp môn”.

Chư Phật riêng không cảnh giới. Chỉ dùng trí tuệ quang minh tùy thuận chúng sanh làm Phật sự. Người niệm Phật vì đầy đủ tin hiểu nên vào được trí tuệ Phật. Vì vậy đủ quán hạnh nên thấy quang minh Phật. Trí tuệ quang minh như thế nương duyên nhân mà hiển phát. Văn dưới Đức Vân nói luôn một lúc 21 môn niệm Phật của các Ðại Bồ tát. Tận 10 phương 3 đời nơi mỗi đầu lông, từng niệm từng niệm đều có Phật xuất thế, Phật nói pháp, Phật diệt độ. Đều lấy tự tâm vô biên trí hạnh làm thể. Niệm Phật Tam muội khắp nhiếp tất cả tam muội.

Giải Thoát trưởng giả nói: “Ta vào Như Lai Vô Ngại Trang Nghiêm Giải Thoát Môn, thấy 10 phương, mỗi phương 10 Phật sát vi trần số Như Lai. Chư Phật không đến đây, ta cũng không đến quý Ngài. Ta muốn thấy Phật A Di Đà ở An Lạc, Tỳ Lư Giá Na Như Lai ở thế giới Bảo Sư Tử Trang Nghiêm… Như vậy tất cả đều thấy ngay. Biết tâm năng kiến, Phật sở kiến, như mộng, như huyễn, như ảnh, như vang. Thấy biết nhớ nghĩ đều do tự tâm”. Vô ngại trang nghiêm giải thoát là lìa tất cả tướng mà thành tất cả tướng. Vì coi như mộng, như huyễn mà không hoại cảnh mộng huyễn (như đức quán Thế Âm, khi tu thì nhập tánh nghe, buông âm thanh. Nhưng đến ngày chứng quả lại tầm thanh cứu khổ). Nếu không vào pháp môn này sẽ như các ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên… ở trong rừng Kỳ Đà mà không thấy cảnh giới thần lực của Như Lai vì thiện căn không đồng.

Tỳ Sắt Chi La nói: “Mở cửa tháp chiên đàn tòa của Như Lai, ta được tam muội tên là Phật Chủng Vô Tận, theo thứ lớp ta thấy tất cả chư Phật của thế giới này, đức Ca Diếp, đức Câu Na Hàm Mâu Ni cho đến bất khả thuyết vi trần số Phật”. Phật chủng vô tận như thế đều do Phổ Hiền hạnh nguyện sanh ra. Phổ Hiền hạnh nguyện là: “Hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, nguyện tôi mới cùng. Vì 4 thứ này vô tận, Phật chủng cũng vô tận”. Nên nói: “Ta biết 10 phương tất cả Như Lai rốt ráo không nhập Niết-bàn”. Nên biết Hóa Thân Phật cai hết thảy con số như phẩm A Tăng Kỳ đã nói, suốt thời gian như phẩm Như Lai Thọ Lượng đã nói, khắp các nơi như phẩm Bồ Tát Trụ Xứ đã nói.

Niệm Pháp Thân Phật để biết gốc nguồn là nơi nương tựa. Niệm Báo Thân Phật để biết công đức bao la chư Phật đã viên mãn. Hóa Thân Phật là nghĩa nhiếp thọ. Đức Phật hiện thân như chúng sanh để thâu nhiếp họ và truyền trao giáo pháp. Phật Pháp thấm nhuần vào thân tâm, hình dung lên lời nói và nếp sống. Nếu không thì Pháp Thân bình đẳng, Báo Thân cứu cánh của Phật đối với chúng ta ích gì? Dù nguồn gốc là Phật tánh mà thật tế vẫn cứ y nhiên phàm phu, ái dục vẫn vương, 3 độc chẳng dứt, thật là đáng thương.

Thiên bách ức hóa thân Thích Ca xuất thế để làm điển hình hùng lực phát triển nguồn gốc công đức trí tuệ. Đánh thức chúng ta, khuyên noi gương dũng mãnh xé màn vô minh. Chúng ta học và hiểu, Phật Pháp từ thâm tâm thể hiện. Chúng ta sẽ quyết chí, nhân Như Lai Tạng bình đẳng vốn sẵn đầy đủ của tất cả chúng sanh, hoàn thành cứu cánh Như Lai công đức. Như thế gọi là Hoa Nghiêm. Sự nghiệp Hoa Nghiêm chính chúng ta phải thực hiện, chớ không phải ai khác.

III. – Niệm Phật danh hiệu thành tựu tối thắng phương tiện. Pháp Thân không nêu biểu, nương danh hiệu mà hiện. Báo Thân, Hóa Thân đều nhờ danh hiệu mà được chỉ bày. Phẩm Tu Di Kệ Tán: “Thà chịu khổ địa ngục được nghe danh hiệu Phật, không muốn hưởng vô lượng vui mà chẳng được nghe danh hiệu Phật”. Nghe danh hiệu Phật là đã được kết duyên thù thắng huống chi luôn luôn thường niệm. Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: “Muốn vào Nhất Hạnh tam muội nên ở chỗ vắng vẻ, điều hòa tâm ý, buông xả cảnh trần, chuyên xưng danh hiệu một vị Phật. Đoan thân chính hướng về phương sở của Ngài. Tương tục tưởng nhớ một vị Phật tức là niệm quá khứ vị lai hiện tại 10 phương chư Phật. Công đức niệm một vị Phật với công đức niệm vô lượng Phật không khác”.

Kinh A Di Đà lấy chấp trì danh hiệu làm chánh nhân vãng sanh. Cho nên biết công đức danh hiệu không thể nghĩ bàn. Phẩm Đâu Suất Kệ Tán: “Người nào lấy Phật làm cảnh giới, chuyên niệm không thôi sẽ thấy vô số Phật”. Phẩm Hiền Thủ nói: “Nếu thường niệm Phật, tâm không động loạn, ắt thường thấy vô lượng Phật. Nếu thường thấy vô lượng Phật ắt biết Như Lai thường trụ”. Kệ trên luận về trì danh nên dùng chữ “số”. Kệ sau từ Hóa Thân, Báo Thân mà tới Pháp Thân cho nên dùng 2 chữ “vô lượng”. Người ta biết con số có lượng mà không biết con số lìa lượng. Biết đếm số của danh mà không biết lìa số của danh. Biết lìa số của danh thì trọn ngày niệm mà ly niệm. Vì lìa lượng của số nên một Phật là tất cả Phật. Phẩm Tùy Hảo Quang Minh nói: “Ta nói ngã mà không chấp ngã, ngã sở. Tất cả chư Phật cũng vậy, tự nói là Phật mà không chấp ngã, ngã sở”.

Song người mới tu phải dùng con số để hàng ngày khắc định thời khóa công phu. Từ một đến vạn, từ vạn đến ức, tâm không lìa Phật, Phật không rời tâm. Như mặt trăng đáy nước, trăng đâu có ở trong nước. Như xuân tại cành hoa, xuân cũng chẳng ở ngoài cành hoa. Như thế niệm Phật, danh hiệu tức Pháp Thân vì tánh của danh hiệu bất khả đắc. Pháp Thân tức danh hiệu vì Pháp Thân ở khắp tất cả. Cho đến Báo Thân, Hóa Thân cũng chẳng khác danh hiệu. Phẩm Như Lai Danh Hiệu nói: “Một danh hiệu Như Lai ngang với pháp giới hư không giới. Tùy chúng sanh tâm mỗi mỗi thấy sai biệt”. Phẩm Tỳ Lư Giá Na xưng dẫn các cổ Phật, lấy một Tỳ Lư đại diện vì tất cả chư Phật đều có Tỳ Lư tạng thân, cổ kim chẳng khác. Như thế trì một Phật danh toàn thâu pháp giới. Chẳng quá khứ, hiện tại, vị lai; cũng chẳng Đông, Tây, Nam, Bắc. Mười phương ba đời ở ngay đương niệm. Chứng được chỗ này, không trải sát na, thành Phật đã xong.

IV. – Niệm Tỳ Lư Giá Na Phật đốn nhập Hoa Nghiêm pháp giới. Như phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm, 10 phương đại Bồ tát cùng Thiên long quỷ thần nói về pháp môn tự chứng, lấy Như Lai quả địa phát khởi lòng tin hiểu cho người, đưa người vào Niệm Phật tam muội. Từ phẩm Như Lai Hiện Tướng cho đến Tín, Trụ, Hành, Hồi Hướng, mỗi phẩm đều có 10 phương các đại Bồ tát và các thế chủ nói kệ tán Phật. Riêng phẩm Thập Địa, mỗi Địa đều nói: “Không lìa niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng” thế thì biết các ngôi vị cao thấp khác nhau, không ngôi nào chẳng lấy Niệm Phật làm bản hạnh. Phật Phật đạo đồng. Cử một đức Tỳ Lư là nhiếp không cùng tận.

Mười hạnh nguyện Phổ Hiền, môn Thường Theo Phật Học: “Như ở cõi Ta Bà, đức Tỳ Lư Giá Na từ sơ phát tâm tinh tấn bố thí bất khả thuyết bất khả thuyết thân mệnh cho đến khi thành Bồ Ðề. Như thế tôi thường theo học”. Bổn Sư ta, nhân địa tu hành quảng đại vô biên không thể nghĩ bàn, cảm quả báo cũng quảng đại vô biên không thể nghĩ bàn. Bậc tu hành chân thành tin hiểu ta có Phật tánh, liền khởi tâm dũng mãnh, tâm quyết định, tâm gánh vác. Như thế cùng với đức Bổn Sư lúc sơ phát tâm không khác.

Tịch Tịnh Âm Hải Dạ thần nói: “Ta được Niệm Niệm Xuất Sanh Quảng Ðại Bồ Tát Trang Nghiêm Giải Thoát. Đã vào 10 bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số biển pháp giới an lập, thấy ở nơi mỗi biển, trong mỗi hạt bụi đều có bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần cõi Phật. Mỗi cõi đều có Tỳ Lư Giá Na ngồi đạo tràng thành Chánh Giác, hiện các thần biến, mỗi mỗi khắp tất cả biển pháp giới”.

Khai Phu Thọ Hoa Dạ thần vào Xuất Sanh Quảng Ðại Quang Minh Giải Thoát môn, hễ nhớ nghĩ tới biển công hạnh của đức Tỳ Lư Giá Na, liền được thấy rõ ràng.

Diệu Đức Viên Mãn thần được Tự Tại Thọ Sanh Giải Thoát môn, vào biển Tỳ Lư Giá Na vô lượng thọ sanh, cũng thấy Như Lai thị hiện thọ sanh không gián đoạn, trong vô lượng cõi. Như thế tận 10 phương giới không nơi nào bằng một đầu kim chẳng phải là pháp giới Tỳ Lư. Thế gọi là niệm Phật pháp giới cũng gọi là niệm khắp tất cả Phật.

Thiện Tài đồng tử đầu tiên tham học Đức Vân được dạy pháp môn Niệm Phật. Đến cuối cùng lại được Phổ Hiền Bồ tát vì nói kệ xưng tán Như Lai công đức, như thế nghĩa là vẫn y như cũ, không lìa pháp môn Niệm Phật. Kệ rằng:

“Hoặc thấy thế giới đẹp khôn sánh, đã được Phật nghiêm tịnh từ vô lượng kiếp. Đức Tỳ Lư Giá Na tối thắng tôn nơi đây giác ngộ thành Bồ Ðề. Hoặc thấy Phật Vô Lượng Thọ. Các Bồ tát như Quán Tự Tại vây quanh, đều đã trụ ngôi Quán Ðỉnh, tràn đầy 10 phương các thế giới”. Lại nói:

“Hoặc thấy Thích Ca thành Phật đạo đã trải bất tư nghì kiếp. Hoặc thấy nay mới là Bồ Tát đang làm lợi ích chúng sanh. Hoặc thấy Như Lai Vô Lượng Thọ trao ký cho các Bồ tát thành vô thượng đại đạo sư, sẽ bổ xứ về cõi An Lạc”.

Cho nên biết pháp giới chư Phật biến nhiếp biến dung. Di Đà là toàn thể Giá Na. Cực Lạc chẳng lìa Hoa Tạng. Tùy tâm chúng sanh thấy, mỗi mỗi không đồng. Phật bản lai thường bất động.

V. – Niệm Cực Lạc thế giới Phật A Di Đà, viên mãn Phổ Hiền hạnh nguyện.

Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện: “Muốn thành Như Lai công đức phải tu 10 hạnh nguyện quảng đại. Thọ trì đọc tụng 10 nguyện vương này, mệnh chung liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới”.

Kinh Hoa Nghiêm chuyên hiển cảnh giới Tỳ Lư, làm sao cuối cùng quy về Cực Lạc? Bởi vì A Di Đà là Vô Lượng Quang. Tỳ Lư Giá Na là Quang Minh Biến Chiếu. Vì đồng một thể nên chẳng đến đi. Vì trong một thể cũng chẳng ngại có đi có đến. Đại Thừa Khởi Tín Luận: “Chúng sanh mới học đạo, mong cầu chánh tín, sợ rằng ở cõi Ta Bà chẳng thường gặp Phật thân thừa cúng dường, tâm dễ thoái lui. Như Lai có thắng phương tiện nhiếp hộ tín tâm, dạy chuyên niệm Tây phương An Lạc thế giới A Di Đà Phật. Bao nhiêu thiện căn tu được, hồi hướng nguyện cầu sanh thế giới kia, liền được vãng sanh. Vì thường thấy Phật nên không thoái lui”.

Tỳ Lư báo độ thì Nhị Thừa và phàm phu không phần. Còn bên Cực Lạc lại phân trương 9 phẩm đón rước cả vạn loài. Một phen vãng sanh cắt ngang sanh tử. Các kinh so sánh 2 cõi hơn kém đã nhiều. Đây không cần nhắc lại. Có kinh dạy 10 niệm. Có kinh dạy từ 1 đến 7 ngày. Có kinh dạy quán thân trượng sáu. Có kinh dạy quán thân 60 vạn ức na do tha hằng hà sa do tuần. Chung quy chẳng ra ngoài số lượng. Đâu bằng Hoa Nghiêm một niệm phổ quán, dọc suốt ba đời ngang bằng thập hư. Sơ phát tâm liền siêu số lượng. Bao nhiêu tịnh nhân đều tối thù thắng. 48 nguyện Phật A Di Đà khắp nhiếp chúng sanh. Phổ Hiền hạnh vương thể hàm hư không, tơ hào không có phân cách. Vì vậy thời gian không dời đổi, không gian chẳng xê dịch, nhậm vận vãng sanh, hoàn đồng bản giác.

Văn dưới nói: “Tới rồi liền thấy Phật A Di Đà, Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc…” Văn Thù, Phổ Hiền không lìa cõi này mà vẫn ở phương kia. Tùy tâm chúng sanh niệm niệm xuất hiện. Nên biết Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc thường chuyển kinh Hoa Nghiêm không gián đoạn.

Nếu không có diệu trí quan sát, không sao tỏ được tâm ta vốn đủ tịnh nhân. Cho nên đầu tiên thiện tri thức số một là Văn Thù. Lại nếu không đại nguyện trang nghiêm cũng chẳng thể viên mãn tịnh quả mà tâm ta vốn đủ. Cho nên cuối cùng Phổ Hiền chung kết.

Quán Âm, Di Lặc, một bổ xứ Di Đà, một bổ xứ Thích Ca, hai Thánh đồng hội để chứng Lạc Bang, Hoa Tạng không một chẳng hai. Di Lặc quan sát 10 phương duy thức. Thức tâm viên minh vào Viên Thành Thật. Đây là chính nhân Tịnh Ðộ. Quán Âm do như huyễn văn huân vô tác diệu lực, vào các quốc độ thành tựu Bồ Ðề. Đây là cực quả của Tịnh Ðộ.

Văn dưới nói: “Người ấy tự thấy sanh trong hoa sen, mong Phật thọ ký. Được thọ ký rồi, suốt đời vị lai dùng trí tuệ lực lợi ích chúng sanh. Chẳng bao lâu sẽ ngồi tòa Bồ Ðề, nơi đạo tràng hàng phục ma quân, thành Ðẳng Chánh Giác, chuyển diệu pháp luân, khiến cho vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ Ðề, đồng chứng đạo quả”.

Toàn bộ Hoa Nghiêm ở nơi kết quả này. Ai người trí tuệ hãy quyết tin vào. Một niệm rụt rè, luân hồi vô tận! Ô hô! Khổ thay!

Nhiếp thọ chánh pháp cần 3 yếu tố: Tín, Nguyện, Hạnh. Chí chuyên cần dựa lòng hâm mộ. Hâm mộ y chỉ Tín và là động lực của tâm nguyện cầu, khiến phát khởi ý chí tinh tấn thực hành.

Về nghĩa chân thường diệu hữu trong Ðại Thừa Phật Pháp thì Tín đặc biệt trọng yếu. Lòng tin không chân thành tha thiết thì dù thông hiểu giáo lý mà vẫn chẳng thật hành. Cần phải tin chắc nhân sanh đang bị trăm khổ bức bách. Tin Phật Pháp có khả năng cứu độ chúng sanh. Tin công đức Phật vô biên, trí tuệ Phật vĩ đại, giáo pháp của Phật chân chánh. Tin quyết chắc đạo Phật đã đề xướng lên nghĩa cứu cánh của Nhất Thừa thật không hư vọng. Có tin mới chịu phát nguyện, rồi từ nguyện khởi hạnh. Tín tâm là bước đầu của sự nghiệp học đạo, thọ Tam Quy, vào chánh giáo. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tin là mẹ các công đức lành”. Trí Độ Luận nói: “Có Tin như có tay, vào núi báu Phật Pháp không luống uổng”.

Phật Pháp là kết tinh của vô biên trí tuệ, là nguồn gốc của tất cả công đức quý báu. Có Tín Nguyện Hạnh mới vào được cửa Phật thừa. Y đức lập danh thì HOA chỉ cho các thứ công đức. Thánh Hiền tự trang nghiêm bằng công đức. Kinh Hoa Nghiêm lấy đại hạnh của Bồ tát làm HOA để trang nghiêm Phật quả. Pháp Thân tức Như Lai Tạng, chúng sanh nào cũng vốn sẵn nhưng không hiển bày vì không có công đức trang nghiêm. Nhân thiên công đức, Nhị Thừa công đức đều trang nghiêm nhưng đại hạnh Bồ Tát đặc biệt thơm tươi rực rỡ nên ví như HOA.

Hỏi: 5 môn kể trên cần vào 1 môn hay phải học cả 5?

Đáp: Thượng căn lợi trí rõ được tự tánh Di Đà, minh bạch duy tâm Tịnh Ðộ. Nêu Pháp Thân là nhiếp không cùng tận. Lý thì đốn ngộ, sự phải tập dần. Giáo chỉ Hoa Nghiêm, Sơ Trụ tức đồng chư Phật. Xong vẫn Tín, Trụ, Hành, Hồi Hướng tiến tu. Chẳng ai không đi đường ấy mà tới Diệu Giác. Thứ lớp rõ ràng. Thủy chung cho đến 10 Địa. Do đại nguyện lực, khoảnh khắc một niệm thấy na do tha Phật. Còn trên quả địa cầu này, tùy chỗ đã thấy Phật mà có các thứ sai khác.

Cõi này người tu dù đã phục hoặc phát ngộ nhưng chưa chứng vô sanh, sao thoát thân sau? Không nương Phật lực, công hạnh khó viên. Cần hướng về Lạc bang, thân thừa thọ ký, tịnh các tập khí mới mãn nguyện vương. Đây là một cửa mở nẻo siêu vượt diệu trang nghiêm. Ai còn thô hoặc, chưa hết nghi tình thì càng phải chuyên trì một danh hiệu Phật. Kiền cần phát nguyện như con thơ nhớ mẹ, lấy chết làm hẹn kỳ lại thêm giáo quán huân tu, trợ phát thắng trí, cảm ứng đạo giao, công không luống uổng. Như đây toàn bằng một niệm mà nhiếp đủ các môn. Một nguồn lợi lớn quý báu, nhất định phải hồi đầu chuyển não.

Hỏi: Anh thích pháp môn Niệm Phật, sao không dùng các kinh về Tịnh Ðộ mà lại đem tâm chú trọng vào Hoa Nghiêm. Căn cứ nơi quả để tìm hiểu nhân, 2 đường lối khó hợp.

Đáp: Kinh Vô Lượng Thọ phần Tựa khuyến tiến người tu, 3 ngôi vãng sanh đều dạy phải phát tâm Bồ Ðề. Song nếu không rõ Phật trí, bất tư nghì trí, vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí, tuy có niệm Phật mà lòng chưa quyết tin thì dù tu công đức vẫn đọa biên địa. Ai thành tâm muốn ngồi tòa sen báu, đăng ngôi bất thoái, phải y Văn Thù trí, vững nguyện Phổ Hiền, hồi hướng vãng sanh. Nay kinh Hoa Nghiêm chính hợp lời dạy. Thượng phẩm thượng sanh trong Quán Kinh cũng đòi điều kiện là phải tụng đọc Ðại Thừa Phương Ðẳng kinh điển. Kinh Hoa Nghiêm là đệ nhất tối tôn. Nhân quả không sai, đâu có lạc nẻo.

Hỏi: Hoa Nghiêm pháp giới trùng trùng mật nghĩa, dùng vô lượng Tu-đa-la làm quyến thuộc, làm sao một môn Niệm Phật mà phổ nhiếp được?

Đáp: Thành thật mà nói, giáo chỉ rộng sâu, tự có phương tiện cho sơ tâm vào đạo. Vào một môn này bèn khắp suốt vô biên pháp giới. Thiện Tài đồng tử nơi một chân lông của Phổ Hiền, qua bất khả thuyết bất khả thuyết vi trần số thế giới, tận kiếp vị lai, niệm niệm chu biến vô biên sát hải. Người niệm Phật cũng thế vì một niệm vốn vô lượng.

Pháp giới quán rất nhiều nhưng đặc biệt thiết thật có 3:

1. Chân không môn, lọc vọng tình để hiển lý tức là niệm Pháp Thân Phật.

2. Lý sự vô ngại môn, dung hòa lý sự để hiển dụng tức là niệm Phật công đức.

3. Chu biến hàm dung môn, nhiếp sự sự để hiển nguồn gốc tức là niệm danh hiệu Phật.

Thanh Lương Sớ Sao chia làm 4 pháp giới:

1. Nhất tâm niệm Phật không tạp nghiệp khác tức nhập sự pháp giới.

2. Tâm và Phật đều vong, nhất chân độc thoát tức vào lý pháp giới.

3. Tức tâm tức Phật, đại dụng tề trương tức nhập lý sự vô ngại pháp giới.

4. Phi tâm phi Phật thần diệu khó lường tức nhập sự sự vô ngại pháp giới.

Phải biết một môn Niệm Phật không pháp nào chẳng nhiếp. Cho nên kinh Hoa Nghiêm tôn trọng đức Tỳ Lư, lấy Cực Lạc làm chỗ quay về. Đã gần Di Đà không lìa Hoa Tạng, châu báu của nhà vốn đủ tha hồ thọ dụng. Không vào môn này trọn không cứu cánh.

Hỏi: Phương Sơn Luận cho rằng Tịnh Ðộ ở phương khác là quyền chẳng phải thật. Lời bàn này làm sao cho thông? Đáp: Giáo chia 4 cõi.

1. Thường Tịch Quang độ là cõi của Phật.

2. Thật Báo độ là chỗ của Pháp Thân Bồ tát.

3. Hữu Dư độ là chỗ của Nhị Thừa.

4. Đồng Cư độ là nơi phàm Thánh chung ở, gồm cả uế tịnh.

Người tu ở Ta Bà do lực chuyên niệm, tập các công đức, hồi hướng Tây phương. Hoặc nghiệp chưa đoạn, sanh về Đồng Cư. Hân tịnh chán uế nếu tha thiết, thô lậu tiêu dần, nghe pháp tăng tiến, sanh về Hữu Dư. Nếu tu nhân Viên giáo, thâm đạt thật tướng, dùng Phổ Hiền hạnh nguyện hồi hướng vãng sanh, cảm cõi Thật Báo. Thân thừa thọ ký, phần chứng Tịch Quang. Cho nên người tại quyền thừa, tất cả đều quyền như hóa thành trong kinh Pháp Hoa vì chẳng ngoài tự tâm. Người rõ Thật Tướng, tất cả đều thật như Cực Lạc ở kinh này. Vì toàn đủ Hoa Tạng.

Khi Phương Sơn làm luận, phẩm Hạnh Nguyện chưa tới Trung Hoa. Cho nên ở một môn Tịnh Ðộ tẽ sinh phân biệt, trở lại thấy kinh văn trái nghịch. Nên biết từ chân khởi huyễn tức huyễn toàn chân, sanh diệt đều lìa, tự tha không hai, một niệm viên dung phổ chu pháp giới mới là Trung Ðạo liễu nghĩa Nhất Thừa. Đề xướng khẩn thiết của Phương Sơn chỉ ở chỗ Thập Trụ sơ tâm tức thành Chánh Giác. Song y giáo pháp thì chính cùng với Ðại Thừa không khác. Ở ngôi Viên Tín, hết kiến tư hoặc lại đoạn trần sa tiến vào Viên Trụ, dung phá vô minh, chứng Vô Sanh Nhẫn, vị ngang Sơ Địa Biệt giáo. Nếu y tự lực như bọn mê muội chợt mong ngôi báu, cho bản lai là Phật, không lạc giai cấp. Phải nương thiện xảo phương tiện mới có thể khắc chứng. Đâu bằng hạnh nguyện ở quyển chót: Đem tâm tin sâu, trì tụng 10 đại nguyện vương. Trong một sát na, vãng sanh Cực Lạc, trụ ngôi Bất Thoái. Phàm phu mới phát tín tâm đã ngang nhiên vào thẳng. Thật là chí viên chí đốn không thể so sánh. Hạnh ngộ diệu kinh, nhân duyên chẳng nhỏ. Hạt châu vẫn trong chéo áo, khách tự nhọc nhằn. Dám khuyên các bậc cao lưu đồng tâm tín thọ.

Hỏi: Đời Tùy, Tăng Linh Cán tu Hoa Nghiêm quán, lâm chung thấy nước chan hòa, ngồi trên hoa sen lớn. Đã thẳng về Liên Tạng, đâu cần gặp Di Đà ?

Đáp: Hoa Tạng thế giới có 10 bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy Hải. Có 10 bất khả thuyết thế giới chủng an trụ. Mỗi thế giới chủng lại có bất khả thuyết thế giới. Tây phương An Lạc cũng ở trong đó. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: “Trong tâm bay lên, kiêm phước kiêm tuệ lại có tịnh nguyện thì tự nhiên tâm khai, thấy 10 phương Tịnh Ðộ của chư Phật, tùy nguyện vãng sanh”. Chỉ gần Di Đà tức tới Hoa Tạng. Trước có Thiện Tài sau có Long Thọ. Đường lối này ngàn thánh cùng đi. Không tuân lời Phật dạy, tự khốn khổ trong các đường rẽ, đúng là đáng thương.

Nay lấy việc gần để nêu tỏ. Đời Tống, đất Minh Châu, đạo nhân ở am tranh tu viên đốn giáo quán. Năm Càn Long thứ 3, tháng 4 ngày 17, lão chủ nhân đặt tiệc ăn mừng, từ biệt đồ chúng rằng: “Hoa Nghiêm thế giới đỗng triệt trạm minh. Rất hợp bản hoài. Nay ta đi đây”. Bèn khiến đọc bài tán Di Đà:

“Vô biên sát hải, hải hàm không.
Hải không toàn chỉ liên hoa cung
Liên cung chu biến biến không hải
Không hải độc linh Di Đà dung.
A Di Đà Phật chẳng sanh diệt
Khó tìm khó nắm trăng đáy nước
Tuyệt phi lìa cú thân như thế
Như vậy cảm thông, như vậy nói.
Ta với Di Đà vốn không hai
Vọng giác thầm sanh hốt thành khác
Nếu mà quét sạch không còn bụi
Cha con đương nhẽ lại gặp nhau.
Thề tu ba phước, chăm sáu niệm
Thân miệng ý không một vết nhơ
Ta nay như thế niệm Di Đà
Chẳng thấy Di Đà vẫn không chán”.

Tán rồi theo chúng xướng danh hiệu Phật vài trăm câu. Phúng tụng Quán Kinh, đến chỗ thượng phẩm thượng sanh, bèn thâu niệm, ngồi mà thoát.

Đại thần họ Uông bình rằng:

“Đây là chính nhân Tịnh Ðộ
Đây là chính tín Hoa Nghiêm”.

Bồ Tát giới đệ tử Bành Tế Thanh luận
Dịch Việt: Sư bà Hải Triều Âm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *